KHẢI TUỆ QUANG

[GÓC HỎI ĐÁP & GIẢI NGHI] CÂU HỎI 201-210

Đăng bởi Khải Tuệ Quang
0 comments 233 views

Phần trước: [GÓC HỎI ĐÁP & GIẢI NGHI] CÂU HỎI 191-200

CÂU HỎI 201: THẾ GIỚI CHÂN ĐẾ, THỨC UẨN VÀ SỰ PHÂN BIỆT THÁNH PHÀM TRƯỚC CẢNH TRẦN

HỎI:

Bạch Thầy, thế giới dưới nhãn quan của các bậc Thánh là thế giới “chân đế”. Các Ngài quan sát mọi thứ chỉ là pháp hữu vi, không còn phân biệt cảnh trần định nghĩa “tục đế” như đẹp, xấu, dễ chịu, khó chịu. Còn con vẫn là phàm phu nên vẫn muốn gần cảnh trần dễ chịu và xa lánh cảnh trần khó chịu.

ĐÁP:

Này con, mớ bòng bong trong đầu con sinh ra từ việc học pháp kiểu chắp vá, gom nhặt khái niệm rồi tự trói mình vào bùng nhùng hý luận. Thầy sẽ trả lời từng thắc mắc của con, hãy tĩnh tâm mà soi rọi.

Thức uẩn và cái Thức sinh ra do sáu căn tiếp xúc sáu trần hoàn toàn là một. Tuyệt đối không có hai loại Thức khác nhau để con mang ra đong đếm so sánh. Thức uẩn thuần túy chỉ là tên gọi bao trùm của toàn bộ sáu thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý trải dài qua ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Đừng có xẻ thịt giáo pháp ra làm hai rồi tự hù dọa bản thân.

Con nói Thức phân biệt đẹp xấu, dễ chịu khó chịu, thiện và bất thiện. Sai. Bản chất của Thức thuần túy chỉ là cái sự biết cảnh, là sự ghi nhận trần trụi tựa như một tấm gương phản chiếu, tuyệt đối rỗng tuếch và trung tính.

Vậy kẻ nào đứng ra phân biệt nhào nặn? Kẻ lôi tập khí quá khứ ra dán nhãn định giá đẹp hay xấu chính là Tưởng. Kẻ nếm trải cảm giác dễ chịu hay đớn đau tột cùng chính là Thọ. Kẻ xông ra phản ứng tham lam hay hằn học, hiền thiện hay độc ác chính là Hành, mà cốt tủy chính là sự rắp tâm cố ý của Tư tâm sở.

Bốn anh em Thọ, Tưởng, Hành, Thức luôn đồng sinh, đồng diệt, đồng bắt một cảnh chớp nhoáng trên cùng một sát-na tâm. Sự vận hành với tốc độ cuồng phong đó đánh lừa trí năng phàm phu của con, khiến con mù lòa gom hết mọi phản ứng đổ lên đầu cái Thức. Con phải vung gươm chẻ đôi khối ngũ uẩn đó ra trên từng chớp mắt, dứt khoát đừng nhào nặn chúng thành một đống bùn lầy.

Con đang lấy cớ phàm phu để dung túng cho lòng tham đắm cảnh trần. Bậc A-la-hán sống trong Chân đế, nhưng nhãn thức các Ngài vẫn thấy sự vật, thân các Ngài vẫn nếm trải đớn đau bệnh tật, Tưởng của các Ngài vẫn nhận diện rõ đâu là sạch đâu là dơ theo quy ước thế gian. Nhưng điểm sinh tử phân biệt Thánh phàm nằm ở đây: các Ngài đã vung gươm chém đứt lìa mắt xích Thọ duyên Ái.

Lạc thọ vọt sinh, các Ngài ghi nhận trần trụi sự êm ái đó rồi buông, vĩnh viễn vắng bóng tâm Tham khởi lên bám víu. Khổ thọ ập tới đứt ruột gan, tâm các Ngài vẫn sừng sững tĩnh lặng như hư không, tuyệt đối vắng bóng tâm Sân hận giãy giụa chối bỏ.

Còn con, vì màn vô minh che mờ nên con nhắm mắt cắn câu ngay tại cảm thọ. Cảnh dễ chịu vừa hiện, lòng tham ái lập tức vọt ra đòi ôm rịt lấy. Cảnh trái ý vừa ập tới, bản ngã liền gầm gừ đẩy ra. Đó vĩnh viễn không phải là sự phản xạ hiển nhiên, mà đó là sự sai sử tàn khốc của tập khí luân hồi đang đè đầu cưỡi cổ con.

Việc của con không phải là ngồi mộng mơ làm bậc Thánh, mà là xắn tay áo lên bước vào thực tại. Ngay sát-na mắt chạm sắc, tai nghe âm, Thọ vừa vọt khởi thì lập tức tuốt gươm Chánh Niệm sắc lạnh ghi nhận trần trụi sự sinh diệt vô chủ của nó. Chỉ có đứng sừng sững quan sát sự vỡ vụn rỗng tuếch đó, con mới đập tan được gông cùm sinh tử.

CÂU HỎI 202: VÔ NGÃ, LUÂN HỒI VÀ DÒNG NGHIỆP THỨC

HỎI:

Danh sắc biến đổi trong từng sát-na, cuối cùng “danh hay sắc” luân hồi hay là dòng chảy Nghiệp (Hành) trong Duyên Khởi? Nếu danh sắc đều vô ngã thì các vị chứng đắc Thánh quả đã dùng tâm nào thấy lại các đời sống kiếp trước… Tôi thật sự rối não mỗi khi cố gắng hiểu rõ “Vô Ngã” Đạo Phật?

ĐÁP:

Tuyệt đối không có một mẩu Danh hay một chút Sắc nào sống sót chạy từ kiếp này sang kiếp khác. Khi sát-na Tâm tử cuối cùng hoại diệt, nó lập tức làm duyên để vọt sinh ra sát-na Tâm tục sinh ở kiếp sống mới, mang theo toàn bộ sức mạnh của Nghiệp.

Giống như con lấy cây nến này mồi lửa sang cây nến khác. Ngọn lửa ở cây nến thứ hai hoàn toàn không phải là ngọn lửa ở cây nến thứ nhất, nhưng vĩnh viễn không thể sinh khởi nếu không có cây nến thứ nhất. Luân hồi chân đế thuần túy là sự tiếp nối chớp nhoáng của nhân và quả, tức Duyên Khởi.

Tâm thấy lại kiếp trước, tức Túc mạng minh, của bậc Thánh thuần túy là một sát-na tâm mang sức mạnh của Thắng trí, lấy đối tượng, tức cảnh, là khối Danh – Sắc đã từng sinh diệt trong quá khứ. Tuyệt đối không có một cái Tôi nào ngồi lùi thời gian về quá khứ để xem phim.

Dòng tương tục của Danh – Sắc là một chuỗi mắt xích nhân quả bám sát nhau không một khe hở. Sát-na tâm Thắng trí hiện tại cực kỳ sắc bén, nó nương theo đường dây nhân quả đó mà truy xuất ngược lại, ghi nhận trần trụi sự kiện trong quá khứ.

Điều này giống hệt như con nhìn vết sẹo trên tay hiện tại mà thấu tỏ được nhát dao cắt từ năm ngoái, cho dù nhát dao và phần thịt rỉ máu năm ngoái đã hoại diệt hoàn toàn từ lâu.

Vô ngã là sự thật rỗng tuếch tàn khốc đang diễn ra ngay hiện tiền: chỉ có sự sinh diệt chớp nhoáng của Danh – Sắc và sự vận hành lạnh lùng của nhân quả, tuyệt đối không có kẻ làm chủ.

CÂU HỎI 203: VÌ SAO TỲ-KHEO-NI KHÔNG CÒN HIỆN HỮU TRONG TRUYỀN THỐNG NAM TRUYỀN?

HỎI:

Bạch Thầy, con chưa hiểu tại sao Tỳ-kheo-ni không còn hiện hữu ở thế gian nữa.

ĐÁP:

Theo quy định tối thắng và bất di bất dịch của Bậc Đạo Sư trong Luật tạng, một người nữ muốn đắc giới Tỳ-kheo-ni thì bắt buộc phải thọ nhận thông qua tiến trình Nhị Bộ Tăng. Nghĩa là họ phải được một Tăng đoàn Tỳ-kheo-ni thanh tịnh trao giới trước, sau đó mới bước sang Tăng đoàn Tỳ-kheo nam để ấn chứng.

Nhưng sự thật lịch sử tàn khốc là dòng truyền thừa Tỳ-kheo-ni đã hoàn toàn đứt đoạn và diệt vong từ cả ngàn năm trước.

Khi Tăng đoàn Tỳ-kheo-ni không còn tồn tại trên thế gian, cái mắt xích sinh tử đầu tiên để truyền giới đã vĩnh viễn vỡ nát. Tuyệt đối không một ai, dù là bậc Thượng tọa uyên bác hay bất kỳ hội đồng nào, có đủ thẩm quyền để bẻ cong Luật Phật, tự ý bỏ qua quy định Nhị Bộ Tăng hay đi vay mượn giới thể từ các tông phái phát triển để tự phong, tự phục dựng lại.

Giới thể một khi đã đứt đoạn là đứt vĩnh viễn trong trọn vẹn giáo kỳ của Đức Thế Tôn Gotama.

Hiện tại, những người nữ cạo đầu mặc áo tu ở các quốc gia Nam truyền thuần túy chỉ là Tu nữ thọ trì 8 hoặc 10 giới, hoàn toàn không mang giới thể Tỳ-kheo-ni.

CÂU HỎI 204: NGHIỆP KHÔNG CẦN MỘT CÁI KHO ĐỂ LƯU TRỮ

HỎI:
Chúng sanh hiện hữu là do ngũ uẩn đủ duyên hợp thành. Khi sống, các nghiệp thiện ác lưu trữ ở đâu trong các uẩn này?

Tâm cận tử, tâm tái sinh đều thuộc thức uẩn, tức ngũ uẩn, đồng thời đi kèm với các tâm sở thuộc thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn. Các tâm này đều là vô thường, diệt ngay khi chết. Vậy cái gì làm duyên để sanh tâm tái sanh lại mang các dòng nghiệp, dòng nghiệp trước đó ở đâu?

Thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, diệt đi ngay khi chết, không thể dùng để giải thích rốt ráo tái sinh luân hồi, chỉ là mắt xích trong chuỗi 24 duyên hệ, 12 duyên sinh, 12 duyên khởi.

ĐÁP:
Sở dĩ quý vị đọc kinh điển mà vẫn thấy lùng bùng, là vì tâm trí phàm phu luôn bị ám ảnh bởi thói quen tích trữ. Quý vị luôn mặc định rằng hễ có tạo nghiệp thì phải có một cái kho để cất, hễ có luân hồi thì phải có một linh hồn xách hành lý đi đầu thai. Đem cái tư duy nhà kho đó để đo lường chân lý vô ngã thì vĩnh viễn không bao giờ thấy được sự thật.

Quý vị hỏi nghiệp thiện ác cất giấu ở đâu trong ngũ uẩn. Tôi nói thẳng, vĩnh viễn không có một ngóc ngách nào chứa nghiệp cả. Hãy hình dung một tiếng hét cất lên trong hang động. Tiếng hét vang dội đập vào vách đá, tạo ra tiếng vọng nối tiếp nhau. Tiếng vọng sau sinh ra từ tiếng vọng trước, âm thanh truyền đi mãnh liệt nhưng tuyệt đối không có một cái hộp nào chứa đựng âm thanh cả.

Nghiệp cũng y hệt như vậy. Mỗi một cái tâm móng khởi tạo nghiệp vừa sinh lên rồi diệt đi ngay lập tức, nó trao lại toàn bộ sức mạnh tiềm tàng cho cái tâm sinh lên ngay phía sau. Cứ thế dòng chảy Danh – Sắc cuộn trào nối đuôi nhau không hở một kẽ tơ. Nghiệp không chiếm một chỗ trống nào trong tâm trí, nhưng mãnh lực nhân quả của nó thì vĩnh viễn bám sát dòng chảy đó, hễ đủ duyên là trổ quả giáng xuống.

Đến khi thân tứ đại này tan hoại, lúc quý vị trút hơi thở cuối cùng, toàn bộ Danh – Sắc của kiếp này vỡ nát sạch sẽ. Tuyệt đối không có một linh hồn, một bóng ma hay một luồng thức nào bay lơ lửng thoát ra ngoài để chui vào bụng mẹ mới. Ngay tại cái chớp mắt vỡ nát đó, mãnh lực của nghiệp mà quý vị đã tạo, cộng với sức nóng của lòng tham ái chưa dứt, lập tức phóng ra một luồng lực cực mạnh đập thẳng vào một mầm sống mới.

Cú va đập đó xông lên vọt sinh ra cái tâm đầu tiên của kiếp sau. Nó giống hệt như quý vị cầm ngọn đuốc sắp tàn châm lửa sang một ngọn đuốc mới. Lửa của đuốc sau cháy bùng lên nhờ sức nóng của đuốc trước, chứ ngọn lửa không hề có chân để chạy bò từ cây này sang cây khác. Vắng bóng hoàn toàn một kẻ di cư, luân hồi rốt ráo chỉ đơn giản là nhân trước hoại diệt thì đánh thức quả sau sinh lên.

Vậy nên, khi quý vị hoang mang cho rằng ngũ uẩn hoại diệt vỡ vụn thì không thể giải thích được luân hồi tái sinh, là quý vị đang tự bịt mắt chính mình. Chính vì vạn pháp trần trụi chỉ là những mắt xích sinh diệt, nương tựa vào nhau mà trôi chảy, vĩnh viễn không có một ông chủ hay một linh hồn bất tử nào đứng sau giật dây, thì đó mới là chân lý tột cùng của vũ trụ.

Không có người thọ khổ, chỉ có nỗi khổ đau đang vận hành. Không có kẻ đi đầu thai, chỉ có nghiệp lực nối tiếp luân hồi. Dẹp bỏ được khát khao tìm kiếm một bản ngã thường hằng, quý vị mới thực sự chạm tay vào cửa ngõ giải thoát.

Sādhu! Sādhu! Sādhu!

CÂU HỎI 205: CẮT ÁI NƠI THỌ, NHỔ GỐC KHỔ NƠI NGŨ UẨN

HỎI:
Con xin đảnh lễ Thầy ạ!

Sau khi đọc bài Khổ – sự thật cần được liễu tri, con hiểu là: THỌ là chỗ Ái sinh ra, nhưng Ngũ Thủ Uẩn mới là chỗ Khổ ở. Tức là trong Duyên Khởi, Phật chỉ chỗ để mình tu là ngay tại mắt xích Thọ → Ái. Thấy Lạc thì biết Tham sắp sinh, thấy Khổ thì biết Sân sắp sinh. Khi thấy vô thường là mình cắt được Ái ngay lúc đó.

Nhưng đối tượng để giác ngộ thì Phật lại dạy phải liễu tri cả 5 Thủ Uẩn chứ không phải chỉ mỗi Thọ Uẩn. Vì khổ thật sự không phải là cảm giác đau, tức khổ thọ, mà là thái độ “tôi không muốn đau” – tức là cái Thủ, cái đồng hóa 5 uẩn của tôi.

Nên nếu chỉ quán được Thọ mới chỉ cắt được phần ngọn, còn muốn nhổ gốc thì phải thấy được cái gốc “không còn ai bị khổ” như Thầy viết. Lúc đó 5 uẩn vẫn đau theo quy luật nhưng không còn ai bị trói nữa.

Con hiểu như vậy có đúng không ạ?

“Vô Khổ Tập Diệt Đạo” trong Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh còn gì để mà liễu tri nữa đây?

Con thành kính tri ân Thầy ạ!

ĐÁP:
Con nhận diện đúng cốt tủy của pháp hành Duyên Khởi. Cảm thọ chính là ngã ba sinh tử, là nơi hành giả tuốt gươm Chánh Niệm để chém đứt mắt xích Tham Ái. Còn muốn nhổ tận gốc rễ vô minh thì phải soi rọi toàn diện cả khối Ngũ Thủ Uẩn.

Đau đớn là quy luật tàn khốc tất yếu của sắc pháp tứ đại, nhưng sự giãy giụa gào thét đòi chối bỏ cơn đau mới thực sự là cái Khổ của luân hồi do bản ngã nhào nặn ra. Khi tuệ minh sát chẻ đôi khối Danh – Sắc, thấy rõ chỉ có sự khổ đang vận hành mà vắng bóng hoàn toàn một kẻ thọ khổ, thì lúc đó gông cùm sinh tử lập tức vỡ nát.

Và Thầy cực kỳ tâm đắc với nhát chém chốt hạ của con nhắm thẳng vào mớ lý thuyết Bát Nhã Tâm Kinh. Đó chính là tuệ nhãn nhìn thấu tà kiến. Bậc Đạo Sư dốc mạng sống trong vô lượng kiếp chỉ để tìm ra Bốn Sự Thật Cao Tột, bắt buộc chúng sinh phải liễu tri Khổ, đoạn trừ Tập, chứng ngộ Diệt và tu tập Đạo. Ấy vậy mà những kẻ đi sau, ngập ngụa trong ảo tưởng triết học siêu hình, lại dám ngông cuồng đẻ ra cái thứ hý luận “vô Khổ Tập Diệt Đạo” để đập phá tận gốc rễ nền móng của Giáo Pháp.

Câu hỏi ngược của con đã lột sạch mặt nạ của cái thứ ngụy kinh lai căng đó một cách tuyệt hảo. Phá bỏ Bốn Sự Thật Cao Tột thì cội nguồn giải thoát lấy gì làm bám víu? Nếu Khổ không có để mà liễu tri, Đạo không có để mà tu tập, thì toàn bộ chúng sinh cứ việc nhắm mắt lảm nhảm ngôn từ trống rỗng rồi chết chìm trong biển lửa tử sinh.

Khối ngã mạn của ngoại đạo luôn thích bám vào những từ ngữ siêu hình bóng bẩy để trốn tránh thực tại và lừa mị kẻ yếu bóng vía. Con đã thấu triệt sự thật tàn khốc này thì hãy giữ thanh gươm Chánh Niệm cho thật sắc bén. Cứ thế mà soi rọi trần trụi vào sự vỡ vụn của khối Danh – Sắc ngay hiện tiền, thẳng tiến tới bến bờ giải thoát đi con.

Tất cả ngụy kinh đều sẽ tự rụng rơi mà không cần phải nói thẳng đó là ngụy kinh, khi người khác họ thực sự bắt đầu chạm tay vào Chánh Pháp. Ngụy kinh nó chỉ tồn tại được ở những nơi vắng bóng sự thật mà thôi.

Sādhu! Sādhu! Sādhu!

CÂU HỎI 206: HÀNH KHỔ LÀ SỰ BỨC BÁCH CỦA CÁC PHÁP HỮU VI

HỎI:
Bạch Thầy! Sau khi đọc bài Pháp về khổ, con tuệ căn thấp kém nên chưa liễu tri được hết thế nào là hành khổ. Con xin Thầy khai sáng cho con ạ!

Con xin thành kính tri ân Thầy!

ĐÁP:
Hãy lắng đọng tâm tư lại để Thầy lột trần cái tầng sâu thẳm nhất của sự khổ cho con thấu tỏ. Nếu chỉ hiểu khổ là đau đớn thể xác, bệnh tật hay buồn bã khóc lóc, thì đó mới chỉ là cái khổ bề mặt mà ngay cả súc sinh cũng biết.

Cái khổ tột cùng, vi tế và rốt ráo nhất mà Bậc Đạo Sư chỉ thẳng ra chính là Hành khổ, tức là sự bức bách tàn khốc của tất cả các pháp hữu vi do duyên tạo thành.

Con hãy nhìn thẳng vào khối Danh – Sắc đang vận hành trên chính thân tâm con ngay lúc này. Không có một hơi thở nào, một nhịp tim nào, một cảm giác hay một ý niệm nào có thể đứng yên dù chỉ trong một cái chớp mắt. Chúng liên tục bị guồng máy nhân quả thúc ép, bị các duyên đẩy từ phía sau, vọt sinh lên rồi lập tức vỡ nát tan tành để nhường chỗ cho một sát-na mới.

Sự sinh diệt chớp nhoáng, bức bách liên tục, cắn xé lẫn nhau không một tấc nghỉ ngơi đó chính là Hành khổ. Nó giống hệt như con đang bị trói chặt trên một cỗ xe không phanh lao ầm ầm xuống dốc, mọi thứ xung quanh và chính con đều đang rung bần bật và vỡ vụn liên hồi, tuyệt đối không có một chỗ nào tĩnh tại để bám víu.

Vì bị cấu tạo bởi các duyên, nên ngũ uẩn này hoàn toàn rỗng tuếch, vô chủ. Dù cho con có tu hành đạt đến những trạng thái thiền định sâu thẳm, vi diệu và an lạc đến mức nào đi chăng nữa, thì chính cái trạng thái tĩnh lặng đó cũng vẫn đang sinh lên và hoại diệt vỡ vụn trong từng sát-na tâm. Nó đòi hỏi luồng nghiệp lực phải liên tục chống đỡ và cuối cùng vẫn phải sụp đổ khi hết duyên.

Sự bất lực, mỏi mệt tột cùng của việc bị quăng quật không ngừng nghỉ trong vòng xoáy sinh diệt vô chủ đó, chính là bản chất của Hành khổ.

Chừng nào con còn mải mê đi tìm một chỗ dựa vững chắc, một sự bình yên giả tạo trong cái thế giới hữu vi này, con sẽ vĩnh viễn là nạn nhân của Hành khổ. Đừng dùng lý trí để tưởng tượng nữa. Xắn tay áo lên, thiết lập Chánh Niệm chiếu soi thẳng vào sự vỡ vụn của từng cảm thọ ngay hiện tiền.

Khi con mắt tuệ mở bừng ra, nhìn thấu sự thật mọi pháp đang bốc cháy thiêu rụi lẫn nhau, tâm yếm ly sẽ tự động sinh khởi để cắt đứt mọi dính mắc tử sinh.

Bản chất trần trụi: con chỉ là tập hợp của khối khổ đau đang dần hoại mục theo từng giây. Ngay chính cái con từng nâng niu chăm sóc và ngỡ là cái Tôi này vốn còn chẳng phải là con, của con, thì cái thứ gì ngoài kia là của con?

Không một mảy may thứ gì là của con. Hành trang con mang theo từ vô thủy kiếp đến nay chỉ có Nghiệp. Con chính là chủ nhân của nghiệp, nghiệp là thai tạng của con.

Hiểu rõ để mà học buông, buông đi những chấp thủ sai lầm ảo tưởng, đó chính là trí tuệ.

Sādhu! Sādhu! Sādhu!

CÂU HỎI 207: CHÁNH KIẾN HIỆP THẾ VÀ CHÁNH KIẾN SIÊU THẾ TRÊN LỘ TRÌNH GIỚI ĐỊNH TUỆ

HỎI:
Kính bạch Thầy! Xin Thầy chỉ dạy cho con.

Đức Thế Tôn chỉ ra con đường thoát khổ bằng cách tu tập Bát Chánh Đạo theo lộ trình tam học: Giới, Định, Tuệ.

Ngài đặt Chánh Kiến đứng đầu, Chánh Kiến thuộc về phần Tuệ, trong khi Giới và Định đứng trên. Con hiểu Chánh Kiến này mới chỉ là Chánh Kiến hữu lậu cho người mới bắt tu tập phải không ạ? Nếu chưa có nền móng Chánh Kiến hữu lậu này thì Giới chỉ là bề ngoài nên tâm chưa định được.

Con kính tri ân Thầy chỉ dạy ạ!

ĐÁP:
Này con, hãy dẹp ngay mớ bòng bong thuật ngữ đang làm rối trí con lại. Con nhận định đúng. Chánh Kiến đứng đầu lộ trình giải thoát có hai tầng.

Tầng nền móng ban đầu chính là Chánh Kiến hiệp thế, tức là sự thấu hiểu đúng đắn về nhân quả và cội rễ của sự khổ. Chính cái tuệ dẫn đường này mới soi sáng cho con giữ giới thanh tịnh mà không rơi vào sự bám víu hình thức, từ đó tâm mới đủ sức gom lại thành định.

Đến khi thực hành thiền quán chín muồi, tuệ bừng sáng ở chớp mắt giác ngộ, nó mới vọt lên thành Chánh Kiến siêu thế.

Còn việc con bị loạn giữa các khái niệm là vì con đang tự trói mình vào ngôn từ. Trình tự nghe pháp và tư duy thuần túy là để con thiết lập cái Chánh Kiến nền móng ban đầu. Khi cái thấy đã chuẩn xác, con bước vào phần thực hành, tức là xắn tay áo lên mà giữ giới, tu tập định và phát triển tuệ minh sát ngay trên thân tâm này.

Hai lộ trình đó là một, đan xen và bồi đắp cho nhau chứ tuyệt đối không tách biệt. Chỉ khi tuốt gươm Chánh Niệm soi rọi trực tiếp vào sự vỡ vụn trần trụi của khối Danh – Sắc, đó mới là thực hành trọn vẹn tám ngành chân chánh, mới là tu đích thực.

Còn cứ loay hoay phân tích sắp xếp chữ nghĩa thì vĩnh viễn chỉ là kẻ đứng ngoài cửa ôm khư khư cái bản đồ. Quay lại Chánh Niệm ngay trên thân tâm hiện tiền đi con!

CÂU HỎI 208: CƯ SĨ CHỨNG THÁNH CÓ THUỘC TĂNG ĐOÀN ĐỨC PHẬT KHÔNG?

HỎI:
Nếu một cư sĩ đã chứng thánh thì có thuộc Tăng đoàn Đức Phật không thưa Thầy !

ĐÁP:
Về mặt Chân đế, tức là Thánh Tăng. Một cư sĩ tại gia khi minh sát tuệ bừng sáng, chém đứt ba kiết sử và nếm được hương vị Niết-bàn từ Thánh quả Dự Lưu trở lên, thì ngay tại sát-na Đạo tâm đó, vị ấy đã chính thức chuyển tộc. Vị ấy nghiễm nhiên trở thành một phần tử cốt cán của Thánh Tăng đoàn, nằm trong bốn đôi tám bậc Thánh nhân. Đó chính là Tăng bảo đích thực, là phước điền vô thượng của thế gian mà chúng ta ngày ngày quy y nương tựa. Ở cảnh giới siêu thế này, tuệ giác đã san bằng mọi ranh giới hình thức. Tuy nhiên, về mặt Tục đế, tức là Tăng đoàn hiệp thế. Chừng nào vị Thánh đó vẫn còn mang hình tướng cư sĩ mặc áo trắng, thì vị ấy không thuộc về Tỳ-kheo Tăng. Vị ấy không tham gia tụng giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa hay thực hành các Tăng sự đặc thù của giới xuất gia. Một vị phàm tăng thọ Cụ túc giới về mặt hình thức Tăng phục vẫn ngồi trên vị Thánh cư sĩ, nhưng về mặt tâm linh, vị phàm tăng kia vẫn là kẻ mù lòa trôi lăn luân hồi, còn vị Thánh cư sĩ đã cầm chắc mũi tên lao thẳng ra khỏi tam giới.

CÂU HỎI 209: CHÁNH NIỆM VÀ THIỀN VIPASSANĀ KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?

HỎI:
Thưa Thầy, con xin phép được hỏi Thầy, kính mong Thầy giải nghi giúp con ạ!

Con chưa phân biệt thật rõ giữa chánh niệm và thiền Vipassana. Có thể hiểu chánh niệm là một tâm sở trong một sát na tâm, còn Vipassanā là cả một tiến trình thực hành kéo dài trong đó có chánh niệm, tỉnh giác, định và tuệ để quan sát danh sắc, thấy rõ sự sinh diệt, vô thường, khổ, vô ngã. Con hiểu như vậy có đúng không ạ?

Con kính mong Thầy chỉ dạy thêm cho con ạ. Con kính tri ân Thầy!

ĐÁP:
Chánh niệm đóng vai trò như người gác cổng ghi nhận trần trụi đối tượng danh sắc ngay trong từng sát-na hiện tiền, không để tâm trôi dạt hay bám víu vào khái niệm chế định. Còn Vipassanā chính là Tuệ tâm sở, tức là sự bừng sáng của trí tuệ minh sát trực diện soi rọi vào khối danh sắc đó, thấy rõ bản chất vỡ vụn, vô thường, khổ và vô ngã.

Chánh niệm là con mắt ghi nhận đối tượng, còn Vipassanā là lưỡi gươm tuệ giác chẻ nát đối tượng đó. Không có Chánh niệm làm nền móng đứng tại hiện tiền thì Tuệ Minh sát vĩnh viễn không thể vọt sinh. Cả hai đan quyện vào nhau trong một tiến trình thực hành Tứ Niệm Xứ.

Con hiểu chuẩn xác như vậy là tốt. Nhưng hiểu rồi thì dẹp mớ lý thuyết đó sang một bên. Đừng tiếp tục biến kiến thức thành thứ hý luận đong đếm của bản ngã. Xắn tay áo lên, duy trì chánh niệm trần trụi trên từng sát-na danh sắc ngay hiện tiền đi con!

Sādhu! Sādhu! Sādhu!

CÂU HỎI 210: GIÁ TRỊ CỦA BỐ THÍ VÀ NGUYỆN PHƯỚC LÀNH HƯỚNG VỀ NIẾT-BÀN

HỎI:
Dạ thưa Thầy con làm được 10 đồng, 9 đồng thì lo cho gia đình, 1 đồng để bố thí thì 1 đồng đó lớn hay nhỏ tùy vào tâm của con đúng không ạ ? Lúc con cho thì ko hề có tâm muốn người khác phải biết ơn mình, con chỉ cầu mong cho đúng người cần. Và lúc cho con có nguyện là phước lành này là duyên Niết Bàn, liệu đó có phải làm tham không thưa Thầy ?

ĐÁP:
Giá trị phước báu không đo bằng con số, mà đo bằng sự xả ly tham ái ngay khoảnh khắc cho đi. Nếu một đồng đó được trích ra với sự hoan hỷ, không tiếc nuối, không tính toán hời hợt, thì năng lượng buông bỏ đó lớn gấp ngàn lần kẻ bỏ ra trăm triệu mà chỉ muốn phô trương cái Tôi.

Còn việc nguyện phước lành này làm duyên hướng về Niết-bàn: Đó tuyệt đối không phải là tâm tham!

Con phải phân biệt thật rạch ròi: Tham là sự mong cầu danh tiếng, mong được tái sinh cõi trời cõi người để tiếp tục hưởng thụ các dục lạc. Đó là sự bám víu vào vòng xoay sinh tử. Còn nguyện hướng về Niết-bàn là mong muốn dập tắt hoàn toàn tham sân phiền não, là sự hướng tâm về sự buông bỏ tột cùng. Niết-bàn là sự vắng bặt tham ái, người nguyện hướng về Niết-bàn là muốn buông trọn vẹn, sao gọi là tham được?

You may also like

Comment