KHẢI TUỆ QUANG

[GÓC HỎI ĐÁP & GIẢI NGHI] CÂU HỎI 171-180

Đăng bởi Khải Tuệ Quang
0 comments 238 views

Phần trước: [GÓC HỎI ĐÁP & GIẢI NGHI] CÂU HỎI 161-170

CÂU HỎI 171: TÂM QUAN SÁT THỌ XẢ VÀ NGƯỜI VÔ NHÂN LÀ GÌ?

HỎI:

Thưa Thầy, con có một cái nghi này, con mong được Thầy giảng cho con khỏi nghi.

Con có đọc TÂM TỤC SINH CỦA LOÀI NGƯỜI:

Một chúng sanh được tái sanh làm người là do nhờ vào những phước thiện được thực hiện trong những kiếp quá khứ.

Những chúng sanh đi tái sanh với tâm quan sát thọ xả (upekkhā-santīraṇa citta) là những chúng sanh với những dị tật. Họ sanh ra mù, điếc hoặc với những dị tật khác.

Mặc dầu tâm quan sát thọ xả (upekkhā-santīraṇa citta) là quả của những việc thiện, tức là được tạo sinh ra do tâm đại thiện (mahākusala-citta), nhưng nó lại được tạo ra bởi nghiệp (kamma) rất yếu.

Như vậy, loại tâm tục sinh (paṭisandhi-citta) này, được tạo ra bởi nghiệp (kamma) như vậy, không có năng lực mạnh.

Cho nên, thậm chí khi một người đã đạt được kiếp sống làm người, nhưng vẫn có dị tật ngay từ lúc khởi đầu của sự tục sinh.

Con xin Thầy hoan hỉ giảng giải về Tâm Quan Sát Thọ Xả và giảng sâu hơn tại sao nó lại tạo ra người Vô Nhân.

ĐÁP:

Khi một người làm việc thiện trong quá khứ nhưng thực hiện với tâm thái hời hợt, cưỡng ép, thiếu niềm hân hoan hoặc thiếu hẳn sự hiểu biết về quy luật Nhân Quả, thì nghiệp thiện tạo ra có năng lượng rất yếu ớt. Tuy kém cỏi, hành vi này về bản chất vẫn là hạt giống lành, nên nó vẫn đủ sức giúp chúng sinh đó tránh rơi vào các đọa xứ để được tái sinh mang thân người.

Tuy nhiên, do năng lượng nghiệp quá bạc bẽo, tại thời điểm đứt hơi thở kiếp trước, nó chỉ có thể tạo ra Tâm Quan Sát Thọ Xả Quả Thiện làm tâm tục sinh dẫn dắt dòng sống dính nối vào lòng mẹ. Điểm cốt tủy ở đây là loại tâm tục sinh này thuộc nhóm tâm vô nhân. Điều đó có nghĩa là ngay sát-na đầu tiên hình thành phôi thai, tâm thức của đứa trẻ hoàn toàn thiếu vắng ba gốc rễ thiện lành đồng sinh là Vô Tham, Vô Sân và Trí Tuệ.

Chính vì nền tảng tâm thức khởi đầu trần trụi và không có các gốc rễ nâng đỡ, các vật chất do nghiệp tạo ra trên cơ thể bị suy giảm năng lượng nghiêm trọng. Hệ quả trực tiếp và tất yếu là đứa trẻ sinh ra đã mang sẵn các khiếm khuyết giác quan hay dị tật bẩm sinh như mù, điếc, câm, hoặc bị suy giảm trí tuệ ngay từ trong bụng mẹ.

Về con đường tu tập, hạng người vô nhân quả thiện này chịu sự thiệt thòi rất lớn. Do sát-na tục sinh đầu đời hoàn toàn không có gốc rễ Trí Tuệ đồng sinh, nên trong suốt kiếp sống hiện tại họ không thể chứng đạt các tầng thiền định cũng như không thể đắc các Đạo Quả Thánh, dù có nỗ lực tu hành đến đâu.

Dù vậy, họ vẫn phước báu hơn các chúng sinh ở cõi khổ vì đã có được mang thân người. Họ hoàn toàn có thể tận dụng kiếp sống hiện tại để giữ giới, bố thí, gieo trồng các việc thiện bằng sự hoan hỷ và hiểu biết, từ đó tích lũy những hạt giống có đầy đủ gốc rễ vững chắc để làm nền tảng giải thoát cho các kiếp sống tương lai.


CÂU HỎI 172: CÓ PHẢI MỖI NGƯỜI CÓ THỂ ĐẠT GIẢI THOÁT BẰNG NHIỀU CON ĐƯỜNG KHÁC NHAU KHÔNG?

HỎI:


Đức Phật để lại một kho tàng đồ sộ nhưng Ngài vẫn chỉ nói là “chỉ là nắm lá” so với những gì Ngài biết là cả một đại địa.

Tức là Thế Tôn chỉ giảng những gì có ích cho sự tu tập của chúng ta mà thôi.

Tuy nhiên, nhân duyên và căn cơ học hiểu mỗi người không giống nhau. Ngoài Kinh Nikāya ra thì còn Chú giải và nhiều bài luận của các bậc Tuệ giác. Nên sẽ có trường hợp học thầy A không hiểu nhưng thầy B lại hiểu.

Mình nhớ có câu chuyện bên Bắc tông kể là La Hầu La được độ bởi một người khác, vì người đó có duyên với ngài, thay vì Đức Phật là cha của ngài.

Câu chuyện này thật giả thế nào không dám khẳng định nhưng mình có thể thấy rằng chúng ta đạt được thành tựu thông qua nhiều con đường, phương pháp và người chỉ dạy.

Tất nhiên không có nghĩa là cào bằng, pháp môn nào cũng đúng hay ai cũng được. Mà là cái duyên của mỗi Phật tử. Mình nghĩ là như vậy.

ĐÁP:


Việc trích dẫn ví dụ nắm lá trong rừng để hợp thức hóa việc chấp nhận mọi con đường, mọi góc nhìn là một sự bóp méo Giáo Pháp nghiêm trọng bắt nguồn từ sự thiếu sót về Chánh Kiến. Khi Đức Phật ví Lời Dạy của Ngài như nắm lá trong tay còn những điều Ngài biết như lá trong rừng, Ngài hoàn toàn không có ý nói rằng có những phương pháp giải thoát khác bị giấu lại để người đời tự đi tìm kiếm theo duyên riêng.

Nắm lá trong tay Ngài chính là Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo – những sự thật toàn hảo và duy nhất đủ để đưa chúng sinh đến chấm dứt khổ đau. Những gì Ngài không dạy, tức lá trong rừng, là những điều hoàn toàn không hướng đến sự ly tham, đoạn diệt và Niết-bàn. Việc cố tình đi nhặt nhạnh những thứ ngoài nắm lá đó rồi gắn cho nó cái nhãn phương pháp khai sáng khác thực chất chỉ là hành vi gom nhặt tà kiến của người mù đi trong đêm tối.

Đức Phật đã tuyên bố tối cao rằng Bát Chánh Đạo là Con Đường Độc Đạo, là con đường duy nhất dẫn đến sự thanh tịnh cho chúng sinh, hoàn toàn không có con đường thứ hai. Quan niệm cào bằng theo kiểu pháp môn nào cũng đúng, mỗi người một duyên hay mỗi thầy dạy một kiểu miễn là bừng tỉnh thực chất là sự ngụy biện của tà kiến Giới Cấm Thủ – tức sự bám chấp sai lầm vào các phương pháp không phải là Chánh Pháp mà tưởng rằng có thể dẫn đến giải thoát. Nếu con đường nào cũng đưa đến mục tiêu, thì sự xuất hiện của một Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ở đời trở nên hoàn toàn vô nghĩa.

Càng bế tắc hơn khi lại dùng một câu chuyện ngụy tác không hề có trong Chánh Tạng về Tôn giả La Hầu La để làm tiền đề lý luận cho cái gọi là duyên với người khác. Trong Giáo Pháp Nguyên Thủy, Tôn giả La Hầu La xuất gia dưới sự chỉ dạy của Tôn giả Xá Lợi Phất theo sự chỉ định của Đức Phật, và chính Ngài đã trực tiếp thuyết giảng những bài kinh cốt tủy để Tôn giả La Hầu La đắc quả A-la-hán.

Lấy một truyền thuyết bịa đặt để bác bỏ sự thật Chánh Tạng, rồi từ đó kết luận về con đường tu tập, chính là đỉnh cao của sự nhẹ dạ và mê muội. Đọc Chú giải hay nghiên cứu là để làm sáng tỏ lời Phật dạy chứ không phải để thỏa hiệp với những góc nhìn lệch lạc. Sự cởi mở không có sự soi rọi của Trí Tuệ Chánh Kiến chỉ là tên gọi khác của sự vô minh và hỗn loạn trong tâm thức mà thôi.

CÂU HỎI 173: ĐỐI TRỊ TẬP KHÍ GIẢI ĐÃI TRONG ĐỜI SỐNG VÀ TU TẬP

HỎI:


Thưa Thầy tôn kính. Pháp âm thật minh triết, con xin hoan hỷ tín thọ lời Thầy. Từ đây con cũng nhận ra một bài học mỗi khi làm việc gì đó phải có sự tập trung, chánh niệm, tỉnh giác.

Kính Bạch Thầy. Con tự nhận thấy từ trước đến nay trong làm việc và thậm chí trong quá trình tu tập con thấy mình có rất nhiều lúc giải đãi. Thưa Thầy, con thỉnh Thầy, mong Thầy từ bi chỉ dạy cho con phương cách để đối trị với tập khí này của con trong đời sống cũng như trong tu tập ạ. 🙏🙏🙏

ĐÁP:


Lành thay sự nhận thức của quý vị. Việc tự nhận diện được sự giải đãi ngay trên thân tâm mình chính là bước khởi đầu quan trọng của Chánh Niệm. Giải đãi thực chất là một trạng thái tâm bất thiện, nơi năng lượng Tinh Tấn bị suy giảm, khiến tâm thức rơi vào sự co rút, thụ động và nặng nề. Sự giải đãi không phải là bản chất vĩnh cửu của quý vị, mà chỉ là một tập khí vận hành do tâm thức thiếu sự soi rọi và thường xuyên nuông chiều các cảm giác lờ đờ của thân xác.

Để đối trị và triệt hạ tập khí này trong cả đời sống lẫn con đường tu tập, quý vị cần áp dụng ba phương cách:

Thứ nhất, thắp sáng sự giục giã bằng việc quán chiếu sự vô thường và cái chết. Sự giải đãi chỉ có thể dung thân khi quý vị sống trong ảo tưởng rằng mình còn rất nhiều thời gian. Hãy thường xuyên nhắc nhở bản thân: Thân người khó đắc, Chánh Pháp khó gặp, và cái chết có thể đến ngay trong từng hơi thở. Khi thấy rõ sự mong manh của kiếp sống và sự nguy hiểm của luân hồi, một năng lượng giục giã chân thật sẽ tự động khởi lên, đốt cháy sự trễ nãi và đánh thức tâm thức khỏi sự u mê.

Thứ hai, thực hành Trí Tuệ Như Lý Tác Ý để nhận diện mà không đồng nhất. Khi sự giải đãi kéo đến dưới dạng cảm giác mệt mỏi, lờ đờ hay muốn hoãn lại công việc, quý vị hãy lập tức dùng Chánh Niệm để hay biết: Tâm giải đãi đang khởi lên. Tuyệt đối không tự trách bản thân, cũng không hùa theo sự sai khiến của nó. Hãy nhìn nó như một hiện tượng tự nhiên sinh ra rồi sẽ diệt đi nếu không được tiếp thêm năng lượng. Ngay thời điểm quý vị quan sát nó một cách khách quan, quý vị đã tách mình ra khỏi nó và khôi phục lại sự tỉnh giác.

Thứ ba, kích hoạt Tâm Tinh Tấn ngay trong từng hành vi nhỏ nhất của đời sống thường nhật. Đừng đợi đến khi bước lên đệm thiền mới bắt đầu tu tập. Ngay khoảnh khắc bừng tỉnh, hãy lập tức rời khỏi giường. Khi làm việc, hãy duy trì sự chú tâm trọn vẹn trên từng chuyển động của thân. Khi nhận thấy bóng tối của Hôn Trầm – Thụy Miên đang xâm chiếm khiến thân tâm lờ đờ, quý vị hãy chủ động thực hành các pháp đối trị như đổi tư thế, đi kinh hành, hướng mắt về ánh sáng hoặc rửa mặt để đánh thức sự tỉnh giác. Trong sự vận hành của Danh – Sắc, thân thể và tâm thức luôn tác động tương hỗ chặt chẽ, một thân sắc được rèn luyện trong sự linh hoạt, ngăn nắp chính là bệ phóng vững chắc cho một tâm thức sắc bén và tự chủ.

Tu tập là một lộ trình liên tục gọt rửa phiền não trong từng sát-na hiện tại. Chỉ cần quý vị không dung dưỡng cho sự hoãn lại, kiên trì an trú trong Chánh Niệm và Tỉnh Giác ngay từ những việc nhỏ nhặt nhất, tập khí giải đãi sẽ tự động suy yếu, trả lại sự thanh tịnh, bình an và tự do giải thoát chân thật.

CÂU HỎI 174: CHÁNH NIỆM TRONG TỪNG SÁT NA HIỆN TẠI

HỎI:


Con đảnh lễ Thầy ạ. 🙏🙏🙏

Không biết các Đạo hữu khác thế nào. Còn con cảm nhận mình để ý đến tâm và các hoạt động thân thể của mình nhiều hơn trước. Mỗi khi con thất niệm, tâm suy nghĩ đến việc khác thì con tác ý pháp này, tưởng tri này rồi cũng vô thường, rồi lại quay lại hơi thở, cử động của thân. Nhưng phần lớn vẫn thường xuyên quên, để tâm đi xa mới nhớ Thầy ạ.

Thưa Thầy, quá khứ đã qua không thay đổi được. Tương lai chưa đến, do các duyên mà sanh nên không đoán định được. Sát-na hiện tại chính là quá khứ của sát-na kế tiếp. Thế nên phải Chánh niệm tỉnh giác trong từng sát-na hiện tại để không tạo nghiệp thân, khẩu, ý bất thiện.

ĐÁP:


Lành thay con, con đang thực hành rất đúng hướng và có sự quán xét tâm rất tinh tế.

Về việc thấy mình vẫn thường xuyên quên, con đừng vội lo lắng hay trách bản thân. Ngay khoảnh khắc con nhận ra tâm vừa đi xa, đó chính là lúc chánh niệm đã lập tức quay trở lại rồi. Sự tu tập không nằm ở việc ép tâm phải đứng yên liên tục, mà nằm ở khả năng nhận biết rõ ràng mỗi khi tâm vừa khởi đi hay quay về.

Cảm nhận của con về quá khứ, tương lai và giá trị của từng sát-na hiện tại là vô cùng chuẩn xác. Quá khứ chỉ là ký ức, tương lai chỉ là hình tưởng, chỉ có hiện tại mới là thực tại đang diễn ra. Chăm sóc thật tốt sát-na hiện tại bằng sự tỉnh giác chính là cách bảo vệ thân tâm và ngăn ngừa mọi nghiệp bất thiện một cách rốt ráo nhất.

Con cứ tiếp tục giữ tinh thần thực hành nhẹ nhàng này, quay về nhận biết thân tâm ngay trong hiện tại, không mong cầu cũng không gượng ép nhé.

CÂU HỎI 175: CÂU CHUYỆN TỶ-KHEO CITTAHATTHA VÀ BÀI HỌC VỀ SỰ THỐI CHUYỂN

HỎI:


Bạch Thầy, con có đọc được câu chuyện về Trưởng lão Citta, vị được nhắc đến là đã nhiều lần xuất gia rồi hoàn tục, đến lần cuối mới kiên định tu tập và chứng A-la-hán.

Con thấy câu chuyện này rất gần với tâm lý của nhiều người tu hiện nay, có lúc tinh tấn, có lúc thoái chí.

Con kính thỉnh Thầy có thể giảng thêm về câu chuyện của vị Trưởng lão này, để chúng con hiểu rõ hơn nguyên nhân của sự thối chuyển, điều gì giúp một người có thể quay trở lại Chánh Pháp, và bài học thực hành dành cho chúng con được không ạ?

Con kính tri ân Thầy!

ĐÁP:


Trước khi đi sâu vào bài học, Thầy đính chính một chi tiết nhỏ về danh xưng để con nắm cho thật chuẩn xác theo Chú giải Kinh Pháp Cú. Vị Tỷ-kheo xuất gia rồi hoàn tục tới 7 lần trong điển tích có tên là Cittahattha, chứ không phải Cư sĩ hay Trưởng lão Citta. Cư sĩ Citta (Citta Gahapati) là vị đại đệ tử đệ nhất thuyết pháp tại gia đã chứng quả Bất Lai và chưa từng xuất gia hay hoàn tục lần nào.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự thối chuyển của Tỷ-kheo Cittahattha trong những lần đầu là do sáu căn chưa được hộ trì cẩn trọng, tâm còn chao đảo và thiếu nền tảng Chánh Niệm vững chắc. Khi sống trong môi trường xuất gia thì tâm vị ấy tạm thời thanh tịnh, nhưng lúc đối duyên xúc cảnh với đời sống thế tục, những phiền não tham dục ngủ ngầm lại có cơ hội nảy mầm và kéo vị ấy quay trở lại với các dục lạc trần gian. Đức Phật từng dạy rằng một người có tâm không an định, lòng tin chao đảo và không hiểu rõ Chánh Pháp thì trí tuệ không thể trọn vẹn.

Đó là trạng thái rất tự nhiên của tâm phàm phu khi chưa có sự thấy biết sâu sắc về bản chất của vạn pháp. Tuy nhiên đến lần thứ bảy, động lực mạnh mẽ giúp vị Cittahattha kiên định quay trở lại Chánh Pháp và chứng đạt quả vị A-la-hán chính là sự khởi sanh của Trí Tuệ Quán Bất Tịnh cùng Tâm Yếm Ly. Khi nhìn thấy thân thể biến đổi, uế tạp của người vợ trong lúc ngủ, vị ấy bừng tỉnh nhận ra bản chất thật của thân tứ đại là hôi hám, vô thường và đời sống gia đình chỉ mang lại sự trói buộc, khổ đau. Sự thấy biết chân thật này đã đánh tan mọi bám chấp tham dục, làm bệ phóng cho vị ấy kiên trì thực hành Tứ Niệm Xứ để đạt đến sự giải thoát hoàn toàn.

Từ câu chuyện này, bài học thực hành dành cho con cùng các đạo hữu là khi thấy tâm mình có lúc tinh tấn, có lúc thoái chí thì cũng đừng dằn dỗi hay tự trách bản thân, bởi sự biến đổi đó phản ánh đúng bản chất Vô Thường và Vô Ngã của tâm phàm phu. Trong đời sống hằng ngày, con hãy cẩn trọng hộ trì sáu giác quan, không để tâm cuốn theo các cảnh tham hay sân. Bất cứ khi nào nhận diện tâm đang xao động hay thối chuyển, con chỉ cần chánh niệm ghi nhận ngay trạng thái đó mà không dính mắc, rồi nhẹ nhàng đưa tâm quay trở về quan sát hơi thở và cảm giác nơi thân tâm trong hiện tại. Việc kiên trì giữ sự hay biết trong hiện tại chính là con đường ngắn nhất để giữ vững niềm tin và sự kiên định trên hành trình tu học.

Chúc con và mọi người luôn an lạc, kiên trì và ngày càng tinh tấn.

CÂU HỎI 176: HIỂU ĐÚNG HAI CHỮ CHÁNH VÀ PHÁP

HỎI:
Bạch Thầy, con không hiểu hai từ Chánh và Pháp ạ. Kính mong Thầy dẫn dắt con ạ.

ĐÁP:
Chánh không phải là đúng hay sai theo thói quen bám víu và phân biệt của thế gian. Trong đạo giải thoát, Chánh là sự nhận thức chính xác tuyệt đối, là sự tương ưng hoàn toàn với thực tại đang diễn ra. Đó là một trạng thái tâm không còn bị bóp méo bởi lòng tham ái, không bị thiêu đốt bởi sự thù hận và không bị che mù bởi sự si mê. Chánh là cái thấy thẳng băng vào sự sinh diệt của mọi hiện tượng, thấy rõ ràng mọi thứ đều mang tính vô thường, chứa đựng sự bất toại nguyện và hoàn toàn vô ngã. Khi cái thấy đã Chánh, tâm sẽ tự động buông xả, không còn bám víu hay chấp thủ vào bất cứ điều gì.

Pháp không phải là một học thuyết cao siêu hay một đấng quyền năng để con thờ phụng cầu xin. Pháp là sự thật tự nhiên, là quy luật nguyên thủy vốn có của vũ trụ. Pháp chính là những hiện tượng vật lý và tâm lý đang liên tục xuất hiện và biến hoại ngay trên thân thể và dòng suy nghĩ của con trong từng khoảnh khắc. Đó là hơi thở đang vào ra, là cảm giác đang dâng lên rồi chìm xuống, là quy luật nhân quả vận hành vô tư không bao giờ sai lệch. Vạn pháp vốn dĩ rỗng rang, sinh lên do duyên tụ và tan biến do duyên tán, tuyệt nhiên không có một cái tôi thường hằng nào tồn tại bên trong để mà con nắm giữ.

Chánh Pháp chính là con đường đưa tâm thức trở về nhận diện đúng đắn sự thật tự nhiên ấy. Hiểu được điều này, con sẽ dứt bặt mọi băn khoăn hý luận, không còn hướng ra bên ngoài để tìm kiếm chân lý. Con sẽ chỉ tĩnh lặng quay về quán chiếu ngay nơi thân tâm này, thấy rõ sự sinh diệt để từng bước bẻ gãy gông cùm của luân hồi.

CÂU HỎI 177: SỰ HỘ TRÌ CHÂN THẬT CỦA CHƯ THIÊN

HỎI:

Thưa Thầy, con thấy trong mấy phim TQ hay có cảnh mấy vị đế đi cầu mưa thuận gió hòa, liệu như vậy có phải là cầu các chư thiên hộ trì không ạ?

ĐÁP:

Chư thiên dẫu có thần thông xuất chúng đến đâu thì vẫn là những chúng sinh đang chịu sự chi phối tột cùng của luật Nhân Quả. Họ không làm mưa chỉ vì có người mang mâm cao cỗ đầy đến van xin. Sự vận hành của mưa thuận gió hòa không đến từ những lời khấn vái hay đàn tế linh đình, mà được quyết định bởi nghiệp lực chung của chúng sinh và đạo đức của người đứng đầu lãnh thổ đó. Khi một vị vua biết sống chuẩn mực, giữ gìn giới luật, cai trị bằng thiện pháp, thì từ trường thiện lành sẽ bao trùm cả một vùng đất. Chính cái khối phước báu khổng lồ và sự trong sạch đó mới là thứ trực tiếp chiêu cảm chư thiên. Các vị chư thiên hoan hỷ trước nền tảng đạo đức ấy sẽ tự động quy tụ về hộ trì, trợ duyên cho các quy luật tự nhiên vận hành êm ái, mang lại mưa thuận gió hòa.

Ngược lại, khi lòng người đầy rẫy tham sân si, vua quan bạo ngược, ác nghiệp ngút trời, thì dẫu có đập đầu chảy máu trước bàn tế, chư thiên cũng chán ghét mà lánh xa, để mặc cho ác nghiệp trổ quả thành thiên tai hạn hán. Bởi vậy, con phải chặt đứt ngay thói quen tư duy cầu cạnh mờ mịt đó. Sự hộ trì vi diệu nhất của chư thiên không dành cho kẻ giỏi van xin khấn vái, mà tự động tìm đến những hành giả biết nghiêm trì giới luật và sống trọn vẹn trong chánh niệm. Tu tập là tự thắp đuốc lên mà đi, phước báu sung mãn thì vạn pháp tự nhiên hanh thông mà thôi con nhé.

CÂU HỎI 178: ĐỐI DIỆN CƠN SÂN BẰNG CHÁNH NIỆM THAY VÌ ĐÈ NÉN BẰNG LÝ THUYẾT

HỎI:
Thưa Thầy, xin Thầy từ bi giúp con cho con một lời dạy.

Hai, ba ngày nay những khó khăn lại tới. Những khó khăn này đã xảy ra từ một đến hai năm nay và con vẫn đang cố gắng. Nhưng với người gây ra khốn khó cho con, đôi khi con niệm trong đầu về vô thường, rải tâm từ, con quán người này cũng đang chịu khổ, tất cả đều là quả của nghiệp đang trổ.

Con thấy rõ sự sân trong con, nhưng đến lúc nói ra thì con vẫn không giữ được chánh niệm và sân hận. Con không nói lời ác ý nhưng lời con nói ra con biết không còn hiền hòa nữa.

Hai ngày nay con tự thấy hổ thẹn, không xứng danh là người con Phật chút nào cả. Xin Thầy từ bi giảng dạy con. 🙏🙏🙏

ĐÁP:
Biết hổ thẹn trước sự trồi sụt của phiền não, tức Tàm Quý, là dấu hiệu của một hành giả còn giữ được lớp áo giáp đạo hạnh. Tuy nhiên, đừng để sự hổ thẹn ấy biến tướng thành sự dằn vặt, hối lỗi miên man, tức Trạo Hối, bởi đó lại là một cái bẫy vi tế khác của si mê.

Tôi chỉ thẳng lý do vì sao quý vị thất bại: Quý vị đang dùng lý thuyết chữ nghĩa để đối phó với thực tại. Khi ngọn lửa sân hận đang hừng hực bốc cháy, việc nhẩm niệm về nhân quả, vô thường hay cố ép tâm trí rải tâm từ, thực chất chỉ là quý vị đang dùng một cái Tôi đạo đức giả để đè nén một cái Tôi phẫn nộ. Dùng ý thức để đè nén tâm tư cũng giống như lấy đá đè cỏ, nên khi há miệng ra, nọc độc tất yếu sẽ phun trào.

Đạo Phật không dạy quý vị phải gồng mình nặn ra những lời hiền hòa giả tạo để đóng vai một người con Phật hoàn hảo. Khi nghịch cảnh ập đến và cơn giận cuộn lên, việc quý vị cần làm không phải là phân tích đúng sai hay thương xót đối phương. Hãy lập tức ngậm miệng lại, giữ sự im lặng. Lùi tâm trí về trọn vẹn quán sát thực tại: nhìn thẳng vào sức nóng đang nghẹn ở lồng ngực, sự căng cứng của cơ bắp và nhịp đập dồn dập của tim.

Chỉ đơn thuần đứng ngoài quan sát khối Sắc pháp và Danh pháp đang dao động mãnh liệt đó. Đừng xua đuổi nó, đừng biện minh cho nó, và tuyệt đối không được vơ lấy nó để dán nhãn rằng: TÔI ĐANG TỨC GIẬN.

Không cần phải cố nói lời ái ngữ khi tâm đang đầy nọc độc. Hãy dùng lưỡi gươm Chánh Niệm chẻ đôi cơn thịnh nộ ngay tại sát-na nó đang sinh khởi, nhìn thấu nó chỉ là một hiện tượng vô thường đang trồi lên rồi tất yếu sẽ hoại diệt. Dám trần trụi đối diện với sự nhơ nhuốc của chính nội tâm mình mà không dính mắc, đó mới là trí tuệ xả ly chân thật.

Hãy thực hành rải tâm từ và tụng đọc sám hối liên tục mỗi ngày. Tôi không tự nhiên soạn mấy bài tụng để quý vị thấy có lỗi mới tụng; tôi nói quý vị hãy thực hành nó mỗi ngày. Bởi vì trong vô thủy luân hồi quý vị đã đi qua, quý vị đã tạo hằng hà vô số nghiệp bất thiện, chứ không phải chỉ những lỗi lầm trong kiếp này.

CÂU HỎI 179: THỌ BÁT QUAN TRAI CÓ ĐƯỢC XÀI TIỀN VÀ LÀM VIỆC KHÔNG?

HỎI:
Dạ là chúng con tranh luận về chuyện ngày thọ Bát Quan Trai được làm gì và không được làm gì. Ví như có đạo hữu nói là không được xài tiền, có đạo hữu không đồng ý nói lại là có việc gấp cần không được xài thì biết làm sao. Rồi không đi làm mà chỉ nghe Pháp cả ngày thì làm sao được, nhà thiếu đồ ăn vật thực thì có được đi mua không… Nhiều thắc mắc trăn trở như vậy thưa Thầy.

ĐÁP:
Ai nói là không được xài tiền? Quý vị học theo Phật hay học theo mấy ông thầy? Phật dạy như vậy khi nào?

Giới không nắm giữ vàng bạc là giới luật của hàng xuất gia, những bậc đã dứt áo lìa đời, ném bỏ hoàn toàn sinh kế trần tục. Quý vị là những kẻ đang lăn lộn trong bùn lầy thế tục, còn gánh nặng gia đình mưu sinh, cớ sao lại đi vay mượn hình tướng của bậc xuất gia rồi tự huyễn hoặc, trói buộc lẫn nhau bằng những cấm đoán vô minh? Đó là hậu quả của việc quý vị học Phật qua mớ giáo điều nhồi sọ bề ngoài, nghe theo những sự thêu dệt của người đời chứ chưa từng chạm được vào cốt tủy của Chánh Pháp.

Giữ giới không phải là đóng cửa nhốt mình lại, bỏ mặc người thân khốn đốn, dẹp hết công việc để ngồi nặn ra cái vẻ thanh tịnh giả tạo. Quý vị bước ra đường đi làm, đi mua vật thực cho gia đình, nhưng tay làm mà tâm không khởi lên sự tham lam vơ vét, không dùng thủ đoạn dối trá, không sân hận cãi vã, mọi hành động đều được soi sáng bởi Chánh Niệm, đó chính là đang trì giới một cách sống động và rốt ráo nhất.

Giới luật vĩnh viễn không nằm ở việc quý vị đang cầm tờ tiền hay đang chắp tay ôm quyển kinh. Cốt tủy của Giới nằm ở Tác ý và sự Tỉnh Giác. Cầm tờ tiền đi giải quyết việc đời trong sự rõ biết trần trụi và không bám víu, sự thanh tịnh ấy vĩ đại gấp vạn lần kẻ ngồi xếp bằng nhắm mắt ở thiền đường nhưng trong tâm lại ngấm ngầm kiêu mạn, tự đắc rằng “Ta đây đang thọ Bát Quan Trai” hay lo sợ vẩn vơ vì những luật lệ rỗng tuếch do phàm phu tự vẽ ra.

Hãy đập vỡ ngay cái thói quen tu tập bằng hình tướng đi. Giữ giới là dựng lên bức tường Chánh Niệm để bảo vệ tâm thức khỏi nanh vuốt của tham, sân, si ngay giữa dòng đời cuộn chảy, chứ tuyệt đối không phải tự phế bỏ cuộc sống để biến mình thành những pho tượng đất vô hồn, run rẩy sợ hãi trước mọi vọng động của nhân gian.

Phần lớn nhiều người đang chỉ dừng lại ở chỗ không phạm giới, chứ chưa phải là giữ giới. Một kẻ tham sắc dục nhưng bị nhốt ở tù thì không thể gọi là giữ giới, vì bản chất trong đầu của hắn luôn khao khát chiếm đoạt thân xác của phụ nữ. Ngược lại, người có sự thu thúc và Chánh Niệm, dù có đứng trước người phụ nữ khiêu dục nhất, cũng không để thành hành động bất thiện. Đó mới là giữ giới đúng nghĩa. Bởi thế tôi nói nếu trốn đời mà thành Thánh, thì mấy tên tội phạm bị nhốt tù chung thân đều thành Thánh hết.

CÂU HỎI 180: BẬC A-LA-HÁN VÀ SỰ VẬN HÀNH CỦA TÂM DUY TÁC

HỎI:
Bạch Thầy, các bậc Thánh A-la-hán khi còn tại thế đã đạt Hữu Dư Y Niết-bàn. Con hiểu là các Ngài đã đoạn tận nghiệp, các Ngài không còn tạo bất kỳ nghiệp thiện hay nghiệp bất thiện nào. Mọi hành động của các Ngài đều xuất phát từ lòng từ bi vô ngã, không phân biệt bất kỳ chúng sinh nào. Con hiểu như vậy có đúng không ạ?

Con kính tri ân Thầy khai ngộ ạ!

ĐÁP:
Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.

Sādhu! Sādhu! Sādhu!

Con hiểu như vậy là đúng, nhưng chưa đủ.

Đúng ở chỗ con đã nhận ra bậc vô lậu không còn tạo nghiệp thiện hay bất thiện. Các Ngài đã đoạn diệt hoàn toàn vô minh và ái dục, nên tiến trình tạo tác nhân quả luân hồi đã vĩnh viễn dừng lại.

Tuy nhiên, sự thấu hiểu của con sẽ trọn vẹn và chuẩn xác hơn khi quán chiếu thêm ba khía cạnh vi tế sau đây:

🟥 Sự vận hành của tâm duy tác

Hành động của các Ngài không còn được gọi là nghiệp, mà chỉ đơn thuần là duy tác, tức là sự hoạt động chức năng thuần túy. Khi các Ngài đi, đứng, ăn uống hay thuyết Pháp, đó chỉ là sự phản chiếu trong sáng của một nội tâm tĩnh lặng. Hành động xong là trôi qua, không lưu lại bất kỳ hạt giống nào để trổ quả về sau. Trạng thái này giống như chim bay ngang hư không, bay qua rồi tuyệt nhiên không để lại dấu tích.

🟥 Sự siêu việt các ý niệm

Suy nghĩ rằng mọi hành động của các Ngài đều xuất phát từ lòng từ bi là một cái nhìn rất thiện lành. Nhưng thực tướng tâm các Ngài còn tĩnh lặng và vô nhiễm hơn thế. Lòng từ bi của các Ngài là sự vận hành tự nhiên, không dính mắc, không có khái niệm về người ban phát hay chúng sinh thọ nhận. Trong những sinh hoạt đời thường, các Ngài hành động dựa trên sự tỉnh giác trọn vẹn và trí tuệ thấu triệt vô ngã, chứ không nhất thiết lúc nào cũng phải khởi lên chủ ý từ bi.

🟥 Sự tồn tại của khối ngũ uẩn dư tàn

Trạng thái Hữu Dư Y Niết-bàn có nghĩa là ngọn lửa phiền não đã tắt ngấm, nhưng phần dư tàn là thân xác vật lý cùng hệ thống tâm sinh lý vẫn tiếp tục duy trì hoạt động cho đến khi cạn kiệt tuổi thọ quả báo. Các Ngài vẫn nhận biết cái nóng lạnh của thời tiết, vẫn trải qua những cơn đau nhức do bệnh tật thể xác, nhưng tâm không hề sinh khởi một mảy may khổ ưu hay phản ứng chối bỏ nào.

Con hãy tiếp tục tinh tấn quán chiếu sự thật vi tế này để tâm trí ngày càng sáng tỏ trên con đường tu tập nhé.

You may also like

Comment