KHẢI TUỆ QUANG

[PHÁP ĐÀM] BÀI PHÁP 01 – 10

Đăng bởi Khải Tuệ Quang
0 comments 154 views

BÀI 01

Quý vị hãy tinh tấn rèn luyện sao cho lòng từ bi và các thiện pháp không còn là một sự lựa chọn gượng ép khi đứng trước biến cố, mà nó phải trở thành bản năng tự nhiên nhất của tâm thức. Khi tình thương được huân tập đủ sâu, nó tuôn chảy nhẹ nhàng như chính hơi thở của quý vị vậy, hoàn toàn không có sự can thiệp của suy luận logic, cũng không cần đến bất kỳ một nỗ lực cố gồng mình nào cả.

Đối với một người mới bước đi trên con đường tu tập, khi đối diện với lằn ranh giữa thiện và bất thiện, họ thường rơi vào một trạng thái đấu tranh nội tâm. Họ sẽ mất vài giây để tâm trí vận hành, để phân tích xem mình nên hành xử thế nào mới thực sự giữ giới hay biểu hiện lòng từ bi được đây. Sự chần chừ đó phản ánh rằng thiện pháp trong họ mới chỉ dừng lại ở tầng nhận thức, tầng lý thuyết, và các thói quen cũ vẫn còn đang cố níu kéo, tạo ra một lực cản vô hình trong tâm thức.

Nhưng đối với một người đã huân tập tâm mình trong thiện pháp một cách thuần thục, mọi chuyện lại diễn ra hoàn toàn khác. Trong thế giới của họ, không còn khoảng cách giữa người đang thực hành giữ giới và đối tượng được ban rải lòng từ. Sự lương thiện lúc này đã thấm đẫm vào từng ngóc ngách của tâm thức, trở thành bản chất cốt lõi của họ. Khi nghịch cảnh hay thử thách ập đến, phản ứng của họ là sự bao dung và định tĩnh ngay tức thì mà không cần qua bất kỳ bộ lọc suy nghĩ nào.

Nó tự nhiên đến mức giống như việc mắt tự động nhắm lại để bảo vệ khi có bụi bay vào, hay như hơi thở tự vào ra nuôi dưỡng sự sống mà không cần chúng ta phải cố ý ra lệnh. Đó mới chính là sự thực hành chánh pháp ở tầng sâu sắc nhất, nơi giới luật không còn là những điều cấm đoán gò bó bên ngoài mà đã hoàn toàn biến thành hơi thở của chính họ vậy.

BÀI 02

Sự tịch diệt hoàn toàn và chấm dứt vĩnh viễn guồng quay khốc liệt của vòng luân hồi mới chính là cứu cánh thù thắng tối thượng duy nhất của một chúng sinh.

Quý vị cần thấy rõ rằng thế gian này suy cho cùng chỉ là một tiến trình sinh diệt lặp đi lặp lại không ngừng nghỉ, nơi thân tâm liên tục bị thiêu đốt và nghiền nát bởi các làn sóng của tham ái và vô minh. Sự tiếp diễn của sinh tử không mang lại bất kỳ giá trị cốt lõi nào ngoại trừ việc kéo dài chuỗi đau khổ và hệ lụy luân hồi.

Do đó, việc làm nguội lạnh mọi khát khao, bẻ gãy trục quay của bánh xe nghiệp lực để chạm vào trạng thái tịch tịnh tuyệt đối mới là sự tự do đích thực. Khi vạn pháp không còn duyên để sinh khởi, khi mọi biến động của tâm thức hoàn toàn im bặt, đó là lúc một chúng sinh bước ra khỏi bóng tối của sự trói buộc.

Đó không phải là sự hủy diệt tiêu cực, mà là sự thành tựu của hạnh phúc tối hậu, nơi không còn chỗ cho bất kỳ một sự tổn thương hay biến hoại nào có thể chạm tới nữa.

Hãy tinh tấn, chớ phóng dật !

BÀI 03

Nhiều người trong chúng ta cứ mải miết nhìn ra thế giới bên ngoài, cố gắng thấu hiểu các vì sao hay đo lường sự bao la của các thiên hà, mà quên mất rằng toàn bộ vũ trụ ấy thực chất đang được sinh ra và diệt đi ngay qua cánh cửa của đôi mắt này.

Theo cái nhìn thấu suốt của chánh pháp nguyên thủy, thế giới không phải là một cái gì đó to lớn, cố định nằm độc lập ở ngoài kia để quý vị chiếm hữu hay trốn chạy. Bản chất của vũ trụ mà quý vị đang trải nghiệm chỉ là kết quả của một tiến trình phụ thuộc lẫn nhau vô cùng chớp nhoáng. Khi mắt tiếp xúc với hình sắc, cái biết của thị giác khởi lên, và ngay lập tức một thế giới được thiết lập trong tâm thức.

Khi quý vị nhìn một đóa hoa, một bóng hình, hay một cảnh tượng vinh nhục, nếu thiếu đi sự tỉnh giác, tâm quý vị sẽ lập tức thêu dệt, phóng đại và xây dựng nên cả một bầu trời của sự thích ghét, bám chấp và lo âu. Quý vị khóc, quý vị cười, quý vị đau khổ hay luân hồi cũng chính từ những ảo ảnh được vẽ lên ngay tại cửa ngõ này. Toàn bộ bể khổ của một đời người, suy cho cùng, đều được nhào nặn ngay khoảnh khắc ánh sáng chạm vào con ngươi.

Đức Phật đã từng chỉ ra một sự thật chấn động rằng thế giới, sự sinh khởi của thế giới và sự chấm dứt của thế giới nằm ngay trong cái thân một thước mấy này, cùng với những tri giác và tâm thức của nó. Vũ trụ bên ngoài chỉ là sự phản chiếu của những khuynh hướng tâm lý bên trong. Khi mắt nhìn thấy vạn vật mà quý vị không còn bị đánh lừa bởi các ảo tưởng, thấy chỉ là cái thấy, sắc màu chỉ là sắc màu, thì ngay sát na đó, toàn bộ cái thế giới đầy trói buộc của bản ngã hoàn toàn sụp đổ.

Bước qua cánh cửa của đôi mắt bằng một cái nhìn thuần khiết, khách quan và không can thiệp, quý vị sẽ thấy vạn pháp tự sinh tự diệt mà không để lại bất kỳ dấu vết đau khổ nào. Đó chính là lúc quý vị tìm thấy sự tịch tịnh tối thượng, một sự tự do đích thực ngay giữa lòng thế gian đầy biến động này.

Sãdhu Sãdhu Sãdhu!

BÀI 04

🟢‎ Cái nhìn thuần khiết, khách quan và không can thiệp chính là cốt lõi của Chánh Niệm Tỉnh Giác. Đây vừa là công cụ thực hành của một hành giả đang tập sự, vừa là trạng thái tâm tự nhiên, hoàn hảo của một bậc Thánh A-la-hán.

‎Đối với bậc Thánh A-la-hán, cái nhìn này đã đạt đến độ tuyệt đối, trọn vẹn và tự động trong mọi khoảnh khắc. Vì các ngài đã đoạn tận hoàn toàn gốc rễ của tham, sân, si nên tâm của các ngài đối diện với cuộc đời chỉ là sự nhận biết thuần túy. Khi thấy chỉ là cái thấy, khi nghe chỉ là cái nghe, không có một bản ngã nào xen vào để nhào nặn hay phản ứng, do đó không còn tạo ra bất kỳ nghiệp lực nào nữa.

‎Còn đối với những người đang trên đường tu học, cái nhìn này là một thái độ tâm lý cần phải tinh tấn rèn luyện từng chút một. Mỗi khi tập quan sát một cơn giận, một cái đau trên thân hay một tiếng ồn bên ngoài một cách khách quan, không xua đuổi cũng không bám chấp, chính là đang tập sử dụng cái nhìn của bậc Thánh để tự thanh lọc tâm mình.

🟢 Khi một người mù bẩm sinh đột ngột sáng mắt, cái họ nhìn thấy không phải là một thế giới tươi đẹp, mà là một trận cuồng phong của những mảng màu, ánh sáng và hình khối vô nghĩa lao thẳng vào võng mạc. Họ bị quá tải cảm giác. Họ không phân biệt được xa gần, không biết đâu là hình tròn, đâu là hình vuông nếu không chạm tay vào. Toàn bộ cái thế giới an toàn, ngăn nắp mà họ tự dựng lên bằng tưởng tượng suốt mấy chục năm qua lập tức sụp đổ, đẩy họ vào sự hỗn loạn tột cùng.

Cái tâm của chúng ta đối với Chánh pháp cũng y hệt như vậy quý vị ạ. Chúng ta bẩm sinh đã mù loà về chân lý, sống quen trong cái kén êm ấm của vô minh và sự chấp ngã. Chúng ta dùng sự tưởng tượng, dùng các khái niệm tự quy ước để nhào nặn ra một thế giới theo ý mình rồi tin đó là thực tại.

Đến khi ánh sáng của Thiền tuệ chiếu vào, bóc trần sự thật trần trụi rằng không có cái tôi nào cả, vạn pháp chỉ là một dòng danh sắc sinh diệt vô thường và trống rỗng, cái bản ngã phàm phu này sẽ lập tức rơi vào trạng thái kinh hãi và hoảng loạn. Người ta sợ hãi sự thật. Người ta thà chọn ôm lấy bóng tối quen thuộc của ảo tưởng, còn hơn phải đối diện với một thực tại làm tan biến đi cái tôi mà họ hằng nâng niu.
Chính vì vậy, sự tỉnh thức chưa bao giờ là một cuộc dạo chơi êm ái, mà nó là một cuộc cách mạng sụp đổ toàn bộ cấu trúc của ảo tưởng để chạm vào cái thực tính chân đế.

Sãdhu Sãdhu Sãdhu!

BÀI 05

🔴 Nghiệp của người tự sát như thế nào.

Khi một chúng sanh thực hiện hành vi tự sát, bất luận biểu hiện chế ngự bên ngoài có vẻ tịch lặng hay các tạo tác ngôn từ để lại có phần êm đẹp ra sao, thì thực tính pháp vi tế nơi các tốc hành tâm thuộc lộ trình tâm cận tử của chúng sanh đó hoàn toàn là các Tâm căn Sân, luôn tương ưng với Ưu thọ, và bị thúc đẩy bởi Phi hữu ái (lòng khao khát được hủy diệt, được chấm dứt sự hiện diện). Đó là trạng thái cùng tột củasự kháng cự, bất toại nguyện, oán ghét cảnh trần hoặc chán ghét chính uẩn thân này.

Theo sự vận hành mang tính định luật tuyệt đối của Định luật Nghiệp, chuỗi Tốc hành tâm cận tử bất thiện cuối đời này sẽ đóng vai trò quyết định, cấu thành nên Cận tử nghiệp tạo sản nghiệp cho đời sống kế tiếp. Ngay sau khi sát-na Tâm tử diệt đi, Tâm kiết sanh – một loại tâm quả bất thiện – sẽ lập tức khởi sinh liền kề thông qua Duyên vô gián, hoàn toàn không có bất kỳ một sát-na trống rỗng hay trạng thái trung gian nào. Tâm kiết sanh này chính là sự mở đầu, đánh dấu sự xuất hiện của danh sắc mới vào bốn khổ cảnh bao gồm: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, hoặc A-tu-la.

Một Khi Đã Đoạ Vào 4 Đường ác này thì rất khó có cơ hội được làm người trở lại, vô cùng hy hữu. Không như trong Phim đâu, đây là sự thật vận hành của nghiệp !

Ví như con rùa bị mù bơi giữa đại dương vô tận, 100 năm mới nổi đầu lên 1 lần, mà khi nổi lên chui đầu đúng vào cái khúc gỗ trôi lênh đênh trên đại dương có cái lỗ vừa khít cái đầu nó…. Đức Phật Mô Tả được làm thân người này khó và hy hữu cỡ vậy đó.

Chúng sanh đoạ đường ác, thì luôn bị dày vò hành hạ đau đớn, ngu si độn căn của loài súc sanh thì sao mà có cơ hội tu tập hay làm thiện pháp.

Sãdhu Sãdhu Sãdhu!

BÀI 06

Phát triển tâm Tàm & Quý
Tàm (Hiri) và Quý (Ottappa) là Lokapāla Dhamma – tức là hai pháp che chở và bảo vệ thế giới. Nếu vắng bóng hai luồng năng lượng này, xã hội loài người sẽ lập tức hỗn loạn và suy thoái không khác gì loài cầm thú.
Tôi sẽ chia sẻ cho quý vị hiểu:
‎Để phát triển hai trạng thái tâm cao thượng này một cách tự nhiên nhất, quý vị cần nhìn thẳng vào cơ chế vận hành thực tế của chúng, loại bỏ những ngộ nhận thông thường của thế gian.

‎Điều đầu tiên quý vị cần nhận diện rõ: lòng hổ thẹn và sự ghê sợ tội lỗi chân chính mang bản chất rất sáng suốt, mát mẻ. Chúng khởi lên trước hoặc ngay khi một ý niệm xấu ác vừa chớm xuất hiện, đóng vai trò như một màng lọc ngăn chặn không cho lỗi lầm xảy ra.
Nó hoàn toàn khác với sự cắn rứt, dằn vặt hay hối hận sau khi đã lỡ làm điều sai trái. Sự dằn vặt hậu quả thực chất là một trạng thái tâm hụt hẫng, nặng nề, thuộc về năng lượng tiêu cực của sự tức giận và u mê, chỉ làm thiêu đốt tâm trí quý vị thêm mà thôi.

Phát triển hai tâm lý bảo hộ này là học cách ngăn ngừa, chứ không phải học cách tự trừng phạt mình sau khi ngã.
‎Lòng hổ thẹn đối với cái ác được xây dựng trên nền tảng của sự tự trọng. Quý vị phát triển năng lực này mạnh mẽ nhất khi biết lấy chính mình và phẩm giá của mình làm điểm tựa:

‎Quán chiếu về giá trị bản thân: Mỗi khi một ý nghĩ tham lam, ích kỷ hay dối trá khởi lên, hãy dừng lại một nhịp và tự nhắc: Mình là một người có hiểu biết, đang bước đi trên con đường thanh tịnh. Một ý nghĩ thô lậu như thế này hoàn toàn không xứng đáng với danh dự và sự tu học của mình.

‎Ghê tởm cái xấu như vết bẩn: Hãy nhìn hành vi bất thiện giống như một vết bùn nhơ. Một người đang mặc chiếc áo trắng tinh khôi sẽ tự động né tránh vũng bùn vì họ trân quý sự sạch sẽ của chiếc áo, chứ không phải vì sợ ai đó nhìn thấy và la mắng. Đó là sức mạnh tự thân, độc lập với thế giới bên ngoài.

‎Nếu lòng hổ thẹn là cái nhìn hướng vào trong, thì sự ghê sợ tội lỗi lại là cái nhìn hướng ra ngoài để thấy rõ luật vận hành của vũ trụ. Đây là nỗi sợ hãi có trí tuệ, thấy rõ cái quả đau khổ nằm ngay trong cái nhân sai trái:

‎Nhìn thấy sức nóng của sai lầm: Giống như khi nhìn thấy một thanh sắt nung đỏ, quý vị không chạm tay vào không phải vì có ai cấm đoán, mà vì quý vị biết chắc chắn một định luật vật lý: chạm vào là sẽ bị bỏng. Khi nhìn một lời nói dối, một hành vi hại người, quý vị cũng phải thấy nó nguy hiểm y như thanh sắt nung đỏ kia, chạm vào là tự thiêu rụi phước báu của chính mình.

‎Thường xuyên suy xét bốn nỗi sợ chân chính:
Sợ bản thân phải sống trong sự cắn rứt của lương tâm;
Sợ các bậc hiền trí nhìn thấu và chê trách;
Sợ những hình phạt nhãn tiền của luật pháp thế gian; và
Sợ tâm thức bị kéo rơi vào các cảnh giới đọa lạc tăm tối sau khi nhắm mắt xuôi tay.

‎Hai năng lực này không thể mạnh lên nếu chỉ ngồi suy ngẫm trên trang sách.
Chúng phải được mài dũa ngay tại cửa ngõ của sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) thông qua sức mạnh của Chánh niệm.
‎Khi mắt thấy sắc đẹp, tai nghe lời nghịch nhĩ, nếu quý vị thiếu sự tỉnh giác, tâm tham hay tâm sân sẽ lao đi rất nhanh để tạo nghiệp.
Nhưng nếu quý vị có sự chú tâm định tĩnh, nhận diện được luồng năng lượng thôi thúc đó ngay khi nó vừa manh nha dưới dạng một ý niệm vi tế, thì lòng hổ thẹn và sự ghê sợ sẽ lập tức xuất hiện như hai vị hộ pháp, phong tỏa toàn bộ nẻo đường của cái ác.

‎Tiêu chuẩn tối thượng của một người có trí tuệ là sự thành thật tuyệt đối khi đối diện với chính mình trong bóng tối.
Khi quý vị ở một mình, không ai nhìn thấy, không ai biết được ý nghĩ của quý vị, mà quý vị vẫn giữ được sự ngay thẳng và trong sạch, đó là lúc hai viên ngọc quý này đã thực sự hòa làm một với tâm thức quý vị.
Có hai hộ pháp này canh giữ sáu căn, tâm thức quý vị sẽ luôn ở trong trạng thái an định, làm bệ phóng vững chắc cho tuệ quán xuyên thấu thực tại.
Chúc quý vị hãy luôn kiên định và tinh tấn.

Khải Tuệ Quang
Sãdhu Sãdhu Sãdhu!

BÀI 07

‎PHÁP HÀNH: PHÂN BIỆT TƯỞNG TRI & TUỆ QUÁN.

LÀM THẾ NÀO VƯỢT QUA THIỀN CHỈ CHUYỂN SANG THIỀN QUÁN.

Lành Thay – Lành Thay. Tôi rất hoan hỷ khi đọc được những lời chia sẻ chân thành của quý vị về chặng đường tu học đã qua. Quý vị đừng lo lắng về tuổi tác hay sự tiếp thu chậm, bởi vì trong sự thực hành chánh pháp, điều quan trọng nhất không phải là sự thông minh sắc sảo của trí óc, mà là sự chân thật và lòng kiên nhẫn của con tim.

‎Tôi xin đi thẳng vào câu hỏi cốt lõi mà quý vị đang trăn trở: Làm sao để phân biệt giữa quán và tưởng tri, và tại sao cách hành trì hiện tại của quý vị vẫn đang dừng ở mức độ thiền chỉ chứ chưa phải thiền quán?

‎Sự khác biệt này nằm ở đối tượng mà tâm quý vị đang hướng tới, cụ thể như sau:

‎Khi quý vị ngồi định tâm rồi bắt đầu suy nghĩ từ đỉnh đầu xuống chân, hình dung các bộ phận trong cơ thể là bất tịnh, uế trược, hoặc ngồi suy ngẫm trong đầu rằng năm uẩn này là không phải tôi, không phải của tôi, thì toàn bộ tiến trình này chính là tưởng tri.

‎Tưởng tri nghĩa là quý vị đang dùng trí nhớ, sự suy tư và sự tưởng tượng của tâm trí để vẽ ra một bức tranh hoặc chạy một kịch bản có sẵn về giáo pháp. Việc này giúp tâm quý vị rất định, rất thanh tịnh và giảm bớt lòng tham luyến vào thân xác. Đó là một điều rất tốt, nhưng nó thuộc về phạm vi của thiền chỉ, tức là thiền định nhằm làm lắng dịu tâm thức thông qua các khái niệm, chứ chưa phải là sự thấy biết trực tiếp bản chất của thực tại.

‎Thiền quán thực sự không đòi hỏi quý vị phải ngồi suy nghĩ, phân tích lý luận hay dùng suy tư để áp đặt lên đối tượng. Thiền quán là sự nhận diện và cảm nhận trực tiếp những gì đang thực sự xảy ra trên thân và tâm ngay trong hiện tại, mà không qua bất kỳ sự thêu dệt hay dán nhãn nào của tư duy.

‎Để quý vị dễ hình dung, tôi xin lấy hai ví dụ thực tế:

‎Về quán thân và thọ: Khi quý vị đang theo dõi hơi thở, thình lình có một luồng đau nhức xuất hiện ở đầu gối. Nếu quý vị ngồi suy nghĩ trong đầu rằng cái đau này là vô thường, cái đau này không phải là tôi, thì đó là tưởng tri, là thiền chỉ. Ngược lại, nếu quý vị chỉ đơn thuần hướng sự tỉnh giác vào ngay vị trí đó, cảm nhận trực tiếp cái cảm giác tê, nóng, hay căng cứng đang diễn ra thực sự, thấy rõ cách nó tăng lên hay giảm đi mà không khởi tâm ghét bỏ, không gọi tên, không suy diễn, thì đó chính là thiền quán thực sự.

‎Về quán tâm và pháp: Quý vị không cần ngồi dùng tư duy để ép mình hiểu năm uẩn là vô ngã. Mà khi một suy nghĩ hay một cơn giận khởi lên, quý vị chánh niệm nhận diện rõ có một suy nghĩ đang khởi lên, thấy nó tự sinh rồi tự diệt mà quý vị không hề can thiệp hay làm chủ được nó. Ngay khoảnh khắc thấy rõ sự tự sinh tự diệt tự nhiên đó, tuệ giác sẽ tự động liễu tri thuộc tính vô thường và vô ngã của pháp mà không cần quý vị phải dùng suy nghĩ để nhắc nhở.

‎Để chuyển từ việc suy nghĩ về giáo pháp sang việc thực chứng trực tiếp thực tánh của thân tâm, quý vị nên điều chỉnh cách hành trì hằng ngày như sau:

‎Bước 1: Quý vị vẫn tiếp tục theo dõi hơi thở vào ra đều đặn để tâm được định tĩnh và an ổn như quý vị đã làm rất tốt lâu nay.

‎Bước 2: Khi tâm đã định, quý vị hãy buông bỏ toàn bộ kịch bản suy nghĩ tuần tự về bất tịnh hay các bài học lý thuyết về năm uẩn trong đầu. Hãy để tâm hoàn toàn thả lỏng, tự nhiên và tỉnh táo.

‎Bước 3: Lúc này, bất cứ hiện tượng thực tế nào nổi bật lên trên thân tâm thì quý vị chỉ cần ghi nhận hiện tượng đó một cách thuần túy. Nếu thân có cảm giác nóng, lạnh, cứng, mềm, đau nhức thì biết rõ cảm giác đó đang có mặt. Nếu tâm có sự hoan hỷ, có sự phóng dật, hay có suy nghĩ khởi lên thì biết rõ trạng thái tâm đó đang có mặt.

‎Quý vị chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là làm người quan sát thực tại như nó đang là, chứ không dẫn dắt tâm phải suy nghĩ theo một giáo lý nào cả. Khi quý vị chỉ đơn thuần ghi nhận mà không xen chuyển tư duy vào, đó chính là lúc quý vị bước ra khỏi bóng tối của tưởng tri để đón nhận ánh sáng thực tánh của thiền quán.

‎Chúc quý vị luôn kiên nhẫn, tinh tấn và từng bước nếm trải được sự an lạc tự nhiên của chánh pháp.
Sãdhu Sãdhu Sãdhu!

BÀI 08

‎🔴 Lời Thì Thầm Của SỰ THẬT:

‎Hãy đứng trước gương và nhìn thẳng vào hốc mắt đang mờ đục, nhìn những nếp nhăn như những rãnh nứt của nấm mồ đang hằn sâu trên da thịt ngươi. Hãy nhìn xuống đôi bàn tay gân guốc, khô héo như nhành củi mục. Nhìn cho rõ đi!

‎​Cái hình hài mà ngươi đang cưng phụng, tắm rửa, tô vẽ và tự hào ấy – nó có nghe lời ngươi không? Nó đang thối rữa, đang hoại diệt và phản bội ngươi trong từng tích tắc. Đến cái cấu trúc xương thịt hôi hám này còn là Vô ngã , còn trơ trẽn tuột khỏi tầm tay ngươi, thì tiền tài, danh vọng, hay bóng dáng người thương… có cái gì trên cõi đời này thuộc về ngươi? Ngươi chẳng qua chỉ là một kẻ gá hoang trong một cái xác biết đi đang lao nhanh ra nghĩa địa!

‎​Còn những miếng sơn hào hải vị, những mỹ vị trần gian mà cái lưỡi đầy tham ái kia hằng khao khát? Hãy thức tỉnh đi! Vừa đi qua khỏi cuống họng, trộn lẫn với nước bọt uế tạp và dịch vị nồng nặc, chúng lập tức biến thành một bãi nôn mửa gớm ghiếc. Bản chất của cái gọi là thức ăn bổ béo thực chất là sự bất tịnh, và cái thân này chỉ là một cỗ máy liên tục đùn ra phân, nước tiểu, mủ và máu. Ngươi đang đánh đổi cả một kiếp người, tạo vô số ác nghiệp chỉ để làm nô lệ, cung phụng cho một túi da chứa đầy xú uế.

‎​Thở ra mà không dẫn được hơi vào là vùi sâu dưới ba tấc đất, lưỡi hái của Tử thần đang kề sát tận cổ, ngươi còn định say ngủ trong ảo tưởng đến bao giờ?

BÀI 09


🔴 Thưa quý vị, lộ trình tuyệt diệt kiết sử và tâm sở bất thiện được hiển thị không phải là một khối lý thuyết để tích lũy, mà là bản đồ của một cuộc đại cách mạng tâm linh tối hậu. Tôi mong quý vị hiểu rằng, sự tu tập chân chánh không bao giờ là sự xoa dịu, kìm nén hay thỏa hiệp tạm thời, mà là một nhát dao đoạn tuyệt vĩnh viễn, nơi năng lực của Tuệ Thánh Đạo đi qua, bóng tối của vạn kỷ luân hồi lập tức sụp đổ, nhường chỗ cho sự tịch tịnh siêu thế.

‎Trong quá khứ, quý vị và tôi đã từng kinh qua mọi tầng bậc biến hiện của sinh tử: từng là Phạm thiên với đại oai lực hào quang rực rỡ, từng là vương hầu với quyền uy tột đỉnh, và cũng từng là kẻ lữ hành rách rưới cô độc trong bóng đêm trùng trùng. Nhưng tất cả những vinh hoa hay cùng khổ ấy đều chỉ là trò ảo thuật của tâm thức, dễ dàng bị cuốn phăng đi trước ba dòng thác Tham, Sân, Si. Chỉ có thanh gươm giáo pháp tinh tuyền, và chứng nghiệm bằng Tuệ quán, mới đủ sức nhổ bật rễ mười sợi dây kiết sử ngầm kín nhất.

‎Hãy dùng lộ trình nghiêm cẩn này để soi rọi lại từng sát-na thực tại của chính mình, biến những dòng chữ này thành năng lực phản tỉnh, thức tỉnh. Con đường bước ra khỏi vòng lặp vô tận không nằm ở nơi nào xa xôi, mà nằm ngay ở khoảnh khắc quý vị dám nhìn thẳng vào bản chất của tâm, thấu thị và đập tan xiềng xích của tự ngã để bước vào dòng Thánh.
Sãdhu Sãdhu Sãdhu!

BÀI 10

Câu chuyện về Đại đức Losaka Tissa

Tôi kể cho quý vị nghe 1 câu chuyện có thật, về vị tỳ kheo bất hạnh cả 1 đời chưa bao giờ được 1 bữa no.

Vị tỳ Kheo tôi nhắc đến là Đại đức Losaka Tissa (gọi tắt là Losaka).

Trong một tiền kiếp xa xưa thời Đức Phật Ca Diếp (Kassapa), vị này cũng là một tỳ-kheo nhưng có tâm tính ích kỷ và tật đố (ghen tị). Vì không muốn một vị Thánh Tăng (A-la-hán) khác nhận được sự cúng tàng hậu hĩnh từ một thí chủ thân thiết của mình, ông đã đem đổ toàn bộ phần thức ăn ngon được gửi tặng vào đống tro bếp.

Do quả báo ích kỷ và hủy hoại thức ăn của bậc Thánh, ông phải đọa vào địa ngục nhiều vạn năm, sau đó tái sinh làm dạ xoa và chó đói trong hàng trăm kiếp, chưa bao giờ được ăn một bữa trọn vẹn.

Đến thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ông tái sinh vào một làng chài nghèo ở xứ Kosala. Ngay từ khi ông xuất hiện trong bụng mẹ:

Cả làng chài bỗng dưng lâm vào cảnh hoang tàn, thất thu, không đánh bắt được một con cá nào, lại còn bị hỏa hoạn liên miên.

Dân làng nhận ra điềm gở xuất phát từ gia đình ông nên đã cô lập họ. Khi Losaka vừa biết đi, người mẹ vì quá nghèo đói và kiệt quệ đã đưa cho ông một mảnh bát vỡ rồi bỏ rơi ông ngoài đường.

Ông phải sống lang thang, nhặt nhạnh từng hạt cơm rơi vãi để duy trì mạng sống. Cho đến năm 7 tuổi, Trưởng lão Xá Lợi Phất (Sariputta) đi khất thực ngang qua, nhìn thấy đứa trẻ gầy gò ốm yếu, khởi lòng từ bi nên đã đưa về tinh xá nuôi dưỡng và cho xuất gia thành chú Sa-di, sau này thọ giới Tỳ-kheo.

Dù đã xuất gia và rất tinh tấn tu hành, chứng đắc quả vị A-la-hán, nhưng phước báu về vật thực của Tỳ-kheo Losaka vẫn cực kỳ kém cỏi do dư báo quá khứ:

Mỗi khi ông đi khất thực, người ta nhìn vào bình bát của ông luôn thấy đầy ắp thức ăn (do ảo ảnh từ nghiệp lực của ông), khiến họ đi qua mà không cúng dường nữa. Nhưng thực chất bên trong bát lại trống rỗng.

Nếu có ai nhận ra và sớt bát cho ông, thì thức ăn cũng tự nhiên biến mất hoặc vơi đi rất nhanh. Cả đời ông chỉ ăn vừa đủ vài ba hớp cháo để giữ mạng sống qua ngày, chưa bao giờ biết đến cảm giác no bụng là gì.

Đến ngày Tỳ-kheo Losaka chuẩn bị viên tịch (nhập Diệt độ), Trưởng lão Xá Lợi Phất quán chiếu thấy thọ mạng của đệ tử mình sắp hết, Ngài quyết định phải giúp Losaka có được một bữa ăn no duy nhất trong đời.

Trưởng lão Xá Lợi Phất tự mình đi xin một bát thức ăn ngon (gồm mật ong, sữa và đường) mang về cho Losaka. Nhưng khi đặt bát xuống, thức ăn lại biến mất.

Biết được nghiệp báo của học trò quá nặng, Trưởng lão Xá Lợi Phất đã dùng thần thông của mình, tự tay bưng và giữ chặt cạnh bình bát, rồi bảo Losaka: “Này Losaka, hãy ăn đi, ta sẽ giữ chiếc bát này. Chừng nào ta còn giữ nó, thức ăn sẽ không biến mất”.

Nhờ sự hỗ trợ từ thần lực và lòng từ bi của thầy mình, Tỳ-kheo Losaka Tissa lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong đời được ăn một bữa no đủ. Ngay ngày hôm đó, ông tĩnh lặng xả bỏ báo thân và nhập Niết-bàn, chấm dứt hoàn toàn vòng lặp sinh tử luân hồi.

🟢 Nghiệp quả nó rất sòng phẳng, và lạnh lùng. Việc của chúng ta không phải ngồi để trách móc quá khứ, mà là tinh tấn tu tập sớm chấm dứt khổ đau thoát khỏi con quái thú luân hồi này.

_Khải Tuệ Quang _

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.

Sādhu Sādhu Lành thay!


You may also like

Comment