CÂU HỎI 61 – CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH & ĐỜI SỐNG
HỎI
Bạch thầy con có 1 câu hỏi xin thầy hướng dẫn giúp con để con làm đúng chánh pháp: vợ chồng con đã lớn tuổi chồng con đã 51t và con 43t chúng con đã có 3 cháu lớn có nhỏ có. Giờ con ko còn có ý muốn sinh thêm bé nhưng bị vỡ kế hoạch con có thể dùng thủ thuật để bỏ bé được ko vì con ko còn đủ sức tiếp tục hành trình mang thai và nuôi con nhỏ. Giờ con vô cùng bế tắc xin thầy và các đạo hữu cho con lời khuyên để làm đúng pháp và luật.
Con xin tri ân thầy chỉ dạy ![]()
ĐÁP
Không được làm vậy, làm vậy là tạo nghiệp sát sanh rất nặng lề sau này. Cơ duyên đã đưa chúng sanh ấy đến với gia đình thì hãy cố gắng có trách nhiệm. Khó khăn nào cũng có cách để vượt qua cả.
Quý vị hãy bình tâm lại, buông bỏ ý định từ bỏ đứa trẻ và cùng chồng đối diện với thực tại. Khi quý vị bảo vệ một sinh mạng bằng tình thương và sự hy sinh, chính thiện nghiệp lớn lao đó sẽ là bệ đỡ che chở cho gia đình quý vị vượt qua nghịch cảnh sắp tới
CÂU HỎI 62 – CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH & ĐỜI SỐNG
HỎI
Thưa thầy, với những người mẹ do trước đó vô minh chối bỏ sự sinh nở đó thì có cách gì chuộc lỗi không ạ?
ĐÁP
Tôi phải chia sẻ một cách trung thực rằng không có bất kỳ nghi lễ, bài cúng hay thế lực nào có thể xóa nhòa hay chuộc lại một cái nghiệp sát sinh đã gieo. Việc chạy theo các khóa lễ để hóa giải oán hận hay cầu siêu chỉ là sự an ủi tâm lý mang tính mê tín của thế gian, hoàn toàn không thể mua bán hay bù trừ với luật nhân quả.
Nhưng cũng đừng vì thế mà tuyệt vọng rồi tự dìm mình trong sự hoảng sợ hay khóc lóc, bởi vì tâm trạng u uất đó thực chất lại là một loại năng lượng tiêu cực tạo thêm nghiệp bất thiện mới. Một nắm muối nếu bỏ vào chén nước nhỏ thì chén nước sẽ mặn chát không thể uống, nhưng nếu ném nắm muối đó vào dòng sông lớn thì vị mặn sẽ bị hòa tan hoàn toàn. Lỗi lầm cũ giống như nắm muối, việc cần làm ngay lúc này là biến cuộc đời mình thành một dòng sông lớn để làm loãng đi ác nghiệp đó.
Cách chuộc lỗi chân thật nhất là từ nay về sau, phải sống một cuộc đời thật trong sạch, nghiêm túc giữ giới không sát sinh và ra sức bảo vệ mạng sống của các chúng sinh, như giúp đỡ những đứa trẻ cơ nhỡ hay những người mẹ đơn thân hoạn nạn. Hãy nỗ lực làm các việc thiện sự từ tâm như bố thí, sẻ chia và dành thời gian thực hành thiền định để thanh lọc nội tâm mình. Mỗi khi làm được một việc lành trọn vẹn, hãy khởi tâm lành để hồi hướng phần phước báu quý giá đó đến đứa trẻ đã khuất, mong cho con nếu có thể nhận được phước lành này mà sớm tái sanh vào cảnh giới an vui. Đó mới là tình thương, là sự hộ trì và trách nhiệm đúng đắn nhất của người mẹ, thay vì cứ mãi chìm đắm trong quá khứ dằn vặt.
CÂU HỎI 63 – CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH & ĐỜI SỐNG
HỎI
Kính Thầy. Nhân về câu hỏi việc có nên hay không nên phá thai. Con xin được hỏi về việc nếu thai có dị tật bẩm sinh ( bại não, down, tim bẩm sinh…). Và bác sĩ khuyên nên bỏ. Thì việc đó gây nên nghiệp ác gì ạ ?
ĐÁP
Luật Nhân Quả nó không có não, không có trí như thần linh ngồi suy xét xem bạn làm việc đó bằng cách nào hoàn cảnh như thế nào, bạn có hiểu không. Nghiệp chính là tác ý, là từ thân, khẩu, ý mà bạn đã trực tiếp gây ra
Một cái gật đầu trong hoàn cảnh đó của bạn , dù bạn không ra tay sát hại đứa bé. Nhưng nếu sự gật đầu đó khiến nó bị kết thúc sanh mạng thì bạn đã mang nghiệp. Tức là hành động đồng loã với kẻ khác để thực hành một hành động từ bỏ sanh mạng, khi biết rõ sanh mạng đó là 1 chúng sanh còn sống.
Còn nếu thai đó nó đã chết, hay thật sự chết não thì hoàn toàn không có gây nghiệp gì. Vì nó chết tự nhiên, cái bước còn lại chỉ là xử lý.
Sãdhu Sãdhu Sãdhu!
CÂU HỎI 64 – CHỦ ĐỀ TU TẬP
HỎI
Bạch thầy giúp con liễu tri điều này ạ.
Mỗi khi tập khí cũ khởi nên, con dùng chánh niệm chặn nguồn xung lực dẫn dắt tạo tác. Nhưng với những tập khí sâu dày, dù ngăn được tạo tác nhưng rung động của xung lực đó vẫn còn như hồi hộp, tim đập nhanh. Trong trường hợp này con quan sát sự hồi hộp đó hay con quay trở về với hơi thở hiện tại ạ? Hay có cách thực hành khác đúng chánh pháp. Mong thầy chỉ dạy giúp con ạ?
ĐÁP
Quý vị đang thực hành có sự tiến bộ nên mới nhận diện được khoảng trống giữa xung lực và hành động, điều này rất đáng khen. Tuy nhiên, có một điểm cốt tủy trong chánh pháp nguyên thủy mà quý vị cần điều chỉnh lại ngay, đó là chánh niệm không phải là một công cụ để chặn đứng hay đàn áp các khuynh hướng tiêu cực. Nếu quý vị dùng ý chí để đè nén, vô tình đang tạo ra một sự phản kháng vi tế, tức là đang dùng một dạng tâm sân ẩn tàng để trị tâm tham. Chánh niệm đúng đắn chỉ đơn giản là hay biết và nhận diện rõ ràng cái xung lực đó đang khởi lên như nó đang là. Khi có sự chứng kiến thuần túy, xung lực đó sẽ tự động mất đi năng lượng dẫn dắt mà không cần phải gồng mình gánh chịu.
Về những dư chấn còn sót lại trên cơ thể như tim đập nhanh, hồi hộp hay bồn chồn, đây là hiện tượng hoàn toàn tự nhiên khi các tập khí sâu dày bị khuấy động. Đối với câu hỏi của quý vị là nên quan sát sự hồi hộp hay quay về hơi thở, và quý vị có xu hướng chọn hơi thở, thì tôi hướng dẫn cách ứng dụng linh hoạt như sau.
Việc quý vị chọn quay về với hơi thở hiện tại là một giải pháp rất an toàn và đúng pháp khi định lực của còn non trẻ. Lúc này, hơi thở đóng vai trò như một cái neo vững chắc để trú ẩn, giúp tâm không bị cuốn phăng đi bởi cơn bão cảm xúc và những phản ứng sinh lý mạnh mẽ. Khi thấy cơ thể rung động quá mức, hãy cứ nhẹ nhàng nương tựa vào hơi thở để làm dịu thân và tâm lại, giúp tâm tìm lại sự thăng bằng.
Tuy nhiên, nếu muốn liễu tri và đi sâu hơn, thì vào những lúc tâm quý vị tương đối tỉnh táo, không bị sự hồi hộp làm cho hoảng sợ, hãy dũng cảm lấy chính sự hồi hộp và nhịp tim đập nhanh đó làm đối tượng để quan sát. Không cần trốn chạy về hơi thở nữa, mà hãy chỉ lặng lẽ chứng kiến sự co thắt, sự dồn dập đó đang diễn ra trên thân. Hãy nhìn nó như một hiện tượng tự nhiên đang sinh lên rồi từ từ diệt đi, không phán xét, không ghét bỏ và không mong cầu cho nó phải mau biến mất. Chính lúc nhìn thấu được sự đến và đi của các cảm thọ khó chịu này mà nội tâm hoàn toàn bất động, đó mới là lúc quý vị bẻ gãy được xiềng xích của những tập khí sâu dày lâu năm.
Không có cách nào cố định cả. Nếu thấy năng lượng tiêu cực quá mạnh thì quý vị cứ lùi lại nương tựa nơi hơi thở, còn khi tâm thế đã vững vàng thì hãy đứng lại quan sát trực tiếp sự sinh diệt của các cảm thọ trên thân.
CÂU HỎI 65 – CHỦ ĐỀ TU TẬP
HỎI
Thưa thầy:” chánh niệm không phải là một công cụ để chặn đứng hay đàn áp các khuynh hướng tiêu cực” . Điều này nghĩa là trạng thái của chánh niệm đúng không ạ ? Tức là khi thực hành chánh niệm đơn thuần là quan sát những gì xảy ra, không phải cái biết cái thấy kèm theo trạng thái sân, si ( từng trạng thái xảy ra nhưng vì tốc độ quá nhanh nên có cảm giác xảy ra đồng thời ạ) . Con hiểu đoạn này như vậy đúng không a?
Con xin hỏi câu tiếp ạ
Con hiểu cách thực hành sau dư chấn là : ” cảm giác nào cho ta cảm nhận rõ thì ta thực hành chánh niệm quan sát cảm giác đó. Khi quan sát hơi thở là phương án an toàn khi chánh niệm chưa đủ mạnh ạ”.
Con xin kính tri ân thầy chỉ dạy ạ ![]()
ĐÁP
Trạng thái của chánh niệm chân thực chính là sự ghi nhận thuần túy, giống như một tấm gương soi, vật thế nào thì hiện hình thế đó, không thêm bớt, không ghét bỏ cũng không dính mắc. Theo thực tế của Vi diệu pháp, hai trạng thái tâm khác nhau không bao giờ có thể khởi lên trong cùng một sát-na. Nhưng vì tốc độ sinh diệt của các lộ trình tâm diễn ra quá nhanh, nhanh đến mức kinh khủng, nên quý vị mới có cảm giác cái biết và cái sân hay cái si nó hòa vào làm một hoặc xảy ra đồng thời. Khi quý vị có ý định muốn can thiệp, muốn đè nén hay chặn đứng tập khí, thì ngay sát-na đó, tâm chánh niệm đã biến mất, nhường chỗ cho một tâm sân vi tế , tức là cái ta ảo tưởng đang trỗi dậy để chống cự lại thực tại.
Nguyên tắc tối thượng của thiền Minh Sát là đối tượng nào đang hiển lộ rõ ràng nhất, thô nhất và tác động mạnh nhất lên thân tâm trong hiện tại thì chánh niệm sẽ đặt trên đối tượng đó. Khi những rung động hay sự hồi hộp nổi lên quá mạnh mẽ mà định lực của quý vị chưa đủ sâu, chánh niệm chưa đủ bén để nhìn xuyên qua nó, thì việc chủ động rút lui về nương tựa nơi hơi thở là một giải pháp cực kỳ khôn ngoan và an toàn. Hơi thở chính là đề mục gốc, là cái neo vững chắc để giữ cho tâm quý vị không bị dòng thác tập khí cuốn phăng đi.
Hãy mang nguyên vẹn cái hiểu đúng đắn này áp dụng thẳng vào thực tế. Hãy cứ để mọi pháp vận hành tự nhiên, việc của quý vị chỉ là tỉnh giác chứng kiến.
Sãdhu Sãdhu Sãdhu!
CÂU HỎI 66 – CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH & ĐỜI SỐNG
HỎI
Thưa thầy, con xin phép đặt câu hỏi là khi con thực hành chánh niệm và chỉ quan sát thân tâm ở thực tại, thì con đã bị “quên” đi nhiều điều cần thiết trong cuộc sống.
Ví dụ sau một buổi tối quan sát thân tâm cảm thọ và hơi thở, con chỉ tập trung vào hiện tại ngay khoảnh khắc đó thôi, thì sáng mai con nhớ ra là tối đó con đã “quên” đi việc phải đi sấy đồ (nếu ko sấy thì sáng không kịp có đồ mặc). Làm sao để có thể cân bằng được chánh niệm và việc sắp xếp cuộc sống? Dù tâm phóng dật lo âu về tương lai, nhưng nó có điểm mạnh là nó giúp con đôi khi nhớ ra được là trong tương lai gần con cần phải hoàn thành một bài báo cáo chẳng hạn!
ĐÁP
Quý vị đang biến chánh niệm thành một trạng thái đờ đẫn, ngớ ngẩn, hay nói đúng hơn là đang lấy cái cớ tu tập để trốn tránh trách nhiệm với cuộc sống hằng ngày. Chánh niệm chân thật không bao giờ làm cho một người trở nên mất trí nhớ hay quên trước quên sau như vậy cả.
Trong chánh pháp, đi đôi với sự tỉnh giác ghi nhận luôn luôn là sự rõ biết, tức là sự minh mẫn, sáng suốt và hiểu biết trọn vẹn về bối cảnh xung quanh. Bản chất của việc quý vị quên sấy quần áo tối qua không phải vì chánh niệm quá giỏi, mà vì quý vị đang bị rơi vào một trạng thái si muội, đóng băng cái tâm mình lại trong một khoảnh khắc rồi tự tưởng tượng đó là tu. Quý vị đang lơ là với bổn phận thực tại của mình, trong khi thực tại của một người cư sĩ lúc đó là cần phải sắp xếp cuộc sống cho ngăn nắp.
Quý vị nói rằng cái tâm lo âu phóng dật có điểm mạnh là nhắc quý vị nhớ làm báo cáo hay nhớ các công việc trong tương lai gần. Đây là một sự ngụy biện rất tai hại của bản ngã nhằm dung túng cho thói quen phóng túng của tâm thức. Cái tâm bồn chồn, lo sợ chỉ làm cho năng lượng của quý vị bị tàn phá và khiến đầu óc thêm rối loạn mà thôi, chứ nó không phải là thứ giúp quý vị sống hiệu quả.
Đạo Phật chưa bao giờ cấm con người lên kế hoạch cho tương lai. Sự khác biệt giữa một người tu và một người phóng dật nằm ở chỗ này: Người phóng dật để cho các ý nghĩ về tương lai tự động trỗi dậy một cách hỗn loạn, kéo theo sự lo sợ, bất an và căng thẳng; còn một người có chánh niệm thì chủ động dành ra một khoảng thời gian nhất định để ngồi sắp xếp lịch trình, lên kế hoạch viết báo cáo hay chuẩn bị quần áo một cách tỉnh táo rõ ràng. Khi làm những việc đó, họ biết rõ họ đang làm với sự sáng suốt. Làm xong việc sắp xếp thì họ buông xuống để quay về đề mục thiền định. Đó gọi là tư duy có ý thức, là thiện tâm, chứ không phải là tâm phóng dật.
Để cân bằng giữa tu tập và cuộc sống, quý vị cần hiểu rằng chánh niệm là câu chuyện của cả ngày chứ không phải chỉ là việc của một buổi tối ngồi quan sát hơi thở. Khi quý vị đang sinh hoạt, chánh niệm nghĩa là biết rõ mình đang làm gì, cần hoàn thành trách nhiệm gì cho trọn vẹn. Trước khi bước vào giờ thiền sâu, quý vị hoàn toàn có thể dành ra vài phút để kiểm tra xem đồ đạc đã sấy chưa, công việc ngày mai đã hòm hòm chưa. Khi mọi thứ ngoài đời đã ngăn nắp, quý vị bước vào khóa thiền với một cái tâm thanh thản, không vướng bận.
Một cái tâm định tĩnh, trong lành và có trật tự sẽ tự động có một trí nhớ rất bén nhạy và chính xác. Quý vị sẽ tự khắc nhớ việc cần làm đúng lúc, đúng chỗ mà không cần phải mượn đến cái sự lo âu hay hoảng sợ của tâm phóng dật để nhắc nhở đâu. Hãy thay đổi cách thực hành ngay lập tức. Tu là để sống một cuộc đời tỉnh thức, ngăn nắp và hiệu quả hơn, chứ không phải tu để trở thành một người vụng về và thiếu trách nhiệm với chính cuộc sống của mình.
Sãdhu Sãdhu Sãdhu!
CÂU HỎI 67 – CHỦ ĐỀ TU TẬP
HỎI
Thưa thầy khi hành thiền hơi thở xong con thường thấy một luồng khí chạy ngược lên đầu hiện tượng này là gì vậy ạ ? Xin thầy chỉ dạy.
ĐÁP
Những gì quý vị cảm nhận là luồng khí, luồng năng lượng, hay sự chuyển động trong cơ thể khi hành thiền thực chất là sự hoạt động mạnh mẽ của Phong đại kết hợp với Sắc do tâm sanh, Khi quý vị ngồi yên và chú tâm vào hơi thở, tâm của quý vị bắt đầu lắng dịu và gom lại một điểm. Một cái tâm định tĩnh như vậy sẽ liên tục tạo ra các thế hệ sắc tử do tâm sanh vô cùng vi tế và mạnh mẽ. Trong các sắc tử này, Phong đại với đặc tính di động, đẩy tới, nâng đỡ và vận hành sẽ trở nên trội hơn hẳn bình thường. Khi định lực tăng lên, hệ thần kinh và các luồng phong đại này được kích hoạt, chạy dọc theo cơ thể.
Bên cạnh đó, đây cũng có thể là biểu hiện của Hỷ bốc lên, một trong năm loại hỷ cấu thành nên các tầng định. Khi hỷ này sanh khởi, nó tạo ra một trạng thái năng lượng nhẹ nhàng, có xu hướng đẩy ngược lên phía trên, làm cho hành giả có cảm giác như cơ thể đang bay bổng hoặc có luồng khí chạy lên đỉnh đầu.
🔴 Luồng phong đại này vận hành là tự nhiên, nhưng việc nó bị kẹt hoặc chạy ngược lên đầu gây ra sự chú ý quá mức, đôi khi kèm theo nặng đầu hay căng thẳng, thì lại xuất phát từ hai lỗi kỹ thuật rất vi tế sau đây:
Thứ nhất là do quý vị bị dính vào lỗi nhìn ngược. Tuy mắt quý vị nhắm, nhưng tâm của quý vị lại có xu hướng hướng cái nhìn nội soi vào trong mũi, rồi âm thầm dõi theo luồng hơi thở đi vào trong xoang mũi, chạy lên não hoặc chạy vào phổi. Chính cái xu hướng dẫn đường này của Tưởng tri đã điều hướng luồng phong đại chạy ngược lên phía trên vùng đầu.
Thứ hai là do sự căng thẳng ẩn núp dưới dạng tinh tấn quá mức. Khi quý vị cố gắng tập trung thật mạnh để không bị phóng dật, các cơ mặt, cơ quanh mắt và các dây thần kinh vùng đầu sẽ bị gồng cứng một cách vô thức. Sự tắc nghẽn vật lý này khiến cho luồng sắc do tâm sanh khi vận hành đến vùng cổ, vùng mặt sẽ bị dồn ứ lại, tạo ra cảm giác có một áp lực hay một luồng khí nén đẩy ngược lên đỉnh đầu.
🔴 Để hóa giải hiện tượng này, tôi xin gợi ý cho quý vị ba bước thực hành rất rõ ràng:
Tuyệt đối không chạy theo luồng khí: Khi luồng khí chạy lên đầu, quý vị biết rõ là có hiện tượng đó đang xảy ra, nhưng đừng quan tâm đến nó, đừng tò mò xem nó chạy đi đâu, và cũng đừng cố dùng ý chí để đè nó xuống hay đẩy nó đi chỗ khác. Hãy coi nó như một người khách lạ đi ngang qua nhà, không tiếp đón cũng không xua đuổi.
Trả tâm về điểm xúc chạm duy nhất: Quý vị hãy đưa sự chú ý nhẹ nhàng quay trở lại vị trí cửa mũi hoặc vành môi trên. Chỉ ghi nhận hơi thở đi ra, đi vào tại một điểm duy nhất đó như một người gác cổng đứng yên nhìn khách ra vào qua cánh cửa. Không được đi theo hơi thở vào trong cơ thể.
Thả lỏng toàn thân: Hãy kiểm tra lại toàn bộ cơ thể, đặc biệt là các cơ trên khuôn mặt, vùng mắt, vùng trán và hai vai. Hãy chủ động thả lỏng chúng ra. Kinh điển gọi đây là an tịnh thân hành. Khi thân được thư giãn trọn vẹn và tâm không còn mong cầu hay căng thẳng, luồng phong đại tự khắc sẽ được điều hòa một cách tự nhiên mà không gây ra bất kỳ sự khó chịu nào nữa. Quý vị hãy nhớ rằng, mục đích của thiền hơi thở là để ly tham, đoạn diệt phiền não và phát sanh tuệ giác, chứ không phải để đi tìm kiếm hay điều khiển các luồng năng lượng trong cơ thể. Khi quý vị hiểu đúng bản chất vô ngã của các hiện tượng này, tâm quý vị sẽ tự động xả ly và định tĩnh.
CÂU HỎI 68 – CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH & ĐỜI SỐNG
HỎI
Thưa Thầy khi con ngồi thiền khoảng 20p chân con bị tê và con chì theo dõi là tê và con vẫn tập trung hơi thở ra và vào qua điểm là đầu mũi nhưg chân con ngày một tê như chân giả luôn ạ. Thưa Thầy lúc vậy con nên làm gì ạ. Mong Thầy chỉ dậy ạ.
ĐÁP
Trong kinh điển, Đức Thế Tôn dạy hành giả ngồi kiết già, lưng thẳng, thiết lập chánh niệm trước mặt. Tuy nhiên, đối với một người mới bắt đầu, hệ thống cơ xương và gân kheo chưa có độ dẻo dai cần thiết. Nếu quý vị ép mình vào tư thế kiết già ngay lập tức, các bắp cơ sẽ bị căng, dòng chảy của khí huyết có thể bị tắc nghẽn dẫn đến việc chân bị tê dại rất nhanh.
Quý vị nên rèn luyện từ từ. Hãy bắt đầu bằng tư thế xếp bằng thông thường hoặc tư thế bán già, tức là chỉ đặt một chân lên đùi chân kia. Khi cơ thể đã thích nghi, các khớp xương mở rộng ra sau vài tuần hoặc vài tháng, quý vị mới nâng cấp lên tư thế kiết già toàn phần. Điều quan trọng nhất trong tư thế ngồi không phải là việc khóa chặt hai chân, mà là giữ cho cột sống được ngay thẳng tự nhiên để tâm trí dễ dàng định tĩnh.
Nếu tâm quý vị vẫn giữ được sự bình thản, không bực bội, không lo lắng, quý vị hãy tiếp tục giữ chánh niệm tại đầu mũi. Hãy nhìn cái tê đó như một hiện tượng vật lý thuần túy, là sự vận hành của các sắc chất đang sinh diệt, chứ đó không phải là cái chân của tôi, cũng không phải tôi đang bị tê. Việc tách biệt giữa người quan sát và cảm thọ khổ sẽ giúp định lực của quý vị tăng trưởng tốt hơn.
Ngược lại, nếu cái tê quá lớn làm cho tâm quý vị bắt đầu bồn chồn, bứt rứt, hoặc khởi lên sự chịu đựng trong tức giận, hãy nhớ rằng đạo Phật không cổ xúy cho lối tu khổ hạnh ép xác. Sự chịu đựng đi kèm với tâm sân sẽ không mang lại tuệ giác, mà chỉ làm tổn thương cơ thể. Lúc này, quý vị hãy chậm lại, nhận biết rõ ràng cái ý muốn thay đổi tư thế. Sau đó, hãy nhẹ nhàng, thong thả duỗi chân hoặc chuyển từ kiết già sang bán già một cách chánh niệm nhất. Từng cử động nhỏ của tay, của chân lúc thay đổi tư thế đều phải được quý vị biết rõ. Việc di chuyển có sự tỉnh giác này chính là sự rõ biết trọn vẹn, một phần không thể thiếu của Chánh Niệm.
Thiền tập là một hành trình dài hạn của sự tỉnh thức và lòng bao dung với chính mình. Quý vị đừng nôn nóng, hãy để thân và tâm được huấn luyện một cách tự nhiên và từ tốn.
Sãdhu Sãdhu Sãdhu!
CÂU HỎI 69 – CHỦ ĐỀ TU TẬP
HỎI
Kính bạch Thầy, qua các lời giảng của Thầy, cũng như nhiều lần được nghe từ các Thiện Tri Thức khác, con hiểu là việc quán sát Thân, Tâm này với Chánh Niệm là không đồng hóa người quan sát với tôi và chỉ quan sát một cách khách quan sự sinh diệt của Danh Sắc mà không phản ứng. Tuy vậy, trong bài kinh MN.20 An Trú Tầm, Đức Phật đề cập đến 5 Pháp đối trị bất thiện tầm: tác ý Thiện Pháp đối trị; tác ý đến nguy hiểm của Bất Thiện Pháp đang có; không tác ý đến Bất Thiện Tầm; tác ý hành tướng và sự an trú của Bất Thiện Tầm ấy (quan sát quá trình đến khi giảm cường độ dần và chấm dứt); dùng Tâm chế ngự (nghiến răng, dán lưỡi lên nóc họng). Như vậy, con nên hiểu thế nào cho đúng Pháp, vì nếu có việc tác ý đoạn trừ các Bất Thiện thì phải chăng là có sự cố ý chứ không còn là quan sát thuần túy nữa ạ?
ĐÁP
Đức Phật mô tả pháp đối trị cuối cùng này bằng hình ảnh: hành giả nghiến chặt răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, dùng tâm để chế ngự, đè bẹp và thiêu đốt tâm bất thiện, giống như một người đàn ông lực lưỡng nắm lấy đầu một người yếu hơn để khuất phục.
Quý vị cần biết một sự thật lịch sử: hình thức này nhìn bề ngoài y hệt như những phương pháp khổ hạnh hành xác mà Bồ Tát Siddhārtha từng thực hành suốt sáu năm rừng già và đã tuyên bố từ bỏ vì nó không đưa đến giác ngộ. Vậy tại sao ở đây Ngài lại đưa nó vào bài kinh này?
Điểm khác biệt nằm ở mục đích và bối cảnh sử dụng. Trong giai đoạn khổ hạnh trước khi thành đạo, Bồ Tát dùng việc ép xác để cố gắng ép bộ não sinh ra tuệ giác, điều đó hoàn toàn sai lầm. Còn trong Kinh An Trú Tầm, biện pháp thô bạo này được Đức Phật đưa ra như một cái phanh khẩn cấp, một giải pháp cứu nguy tối hậu.
Khi một hành giả bị các triền cái ác tấn công với cường độ quá dữ dội, ví như một cơn dục vọng điên cuồng muốn phạm giới hay một cơn sân hận muốn ra tay sát hại, mà bốn biện pháp tế nhị trước đó như đổi đề mục hay quán xét sự nguy hiểm đều đã thất bại, thì lúc này tâm thức đã mất hoàn toàn lý trí. Hành giả không còn đủ sự định tĩnh để mà ngồi đó quan sát khách quan hay nhìn sự sinh diệt nữa. Nếu lúc này vẫn ngoan cố thả nổi để quan sát, hành giả sẽ lập tức sa ngã và tạo tác ác nghiệp nặng nề.
Do đó, hành động nghiến răng dán lưỡi, dùng toàn bộ nghị lực của thể xác và tinh thần để cưỡng chế, đè bẹp tư tưởng ác kia xuống là để bảo vệ giới hạnh ngay trong tích tắc sinh tử đó.
Năm pháp đối trị này thuộc về công năng của Chánh Tinh Tấn chứ hoàn toàn không phải là pháp hành Vipassana (Thiền Minh Sát). Đây là hình thức đoạn trừ bằng cách đè nén tạm thời. Nó giống như việc quý vị dùng một tảng đá nặng đè chặt lên đám cỏ dữ để nó không thể mọc tược lên phá hoại mảnh vườn.
Đức Phật chưa bao giờ nói rằng việc nghiến răng dán lưỡi này sẽ giúp hành giả đắc chứng Thánh quả. Mà chỉ dùng nó như một công cụ dẹp loạn tạm thời. Khi tư tưởng ác nhờ sức mạnh cưỡng chế đó mà lắng dịu xuống, tâm thức mới có cơ hội quay về trạng thái nội tại an trú, định tĩnh và nhất tâm. Và chỉ khi tâm đã trở lại trạng thái định tĩnh, sạch bóng rác rưởi nhờ cái phanh khẩn cấp này, hành giả mới thực sự có đủ công năng để bước vào lộ trình Vipassana chân thật: quan sát danh sắc một cách khách quan mà không phản ứng.
Khi các bất thiện tầm ở mức độ nhẹ hoặc trung bình, hành giả dùng Chánh Niệm thuần túy để quan sát sự sinh diệt của chúng như những vị khách đi qua hiên nhà. Lúc này, việc can thiệp hay cố tình đoạn trừ đúng là sẽ biến thành hành vi của bản ngã. Nhưng khi giặc ác đã quá mạnh, biến thành các tư tưởng điên cuồng muốn phá hoại giới hạnh, hành giả phải chủ động chuyển trạng thái sang chiến đấu, dùng năm pháp đối trị của Kinh An Trú Tầm để dọn dẹp sạch sẽ trường năng lượng u tối đó. Đây là sự cố ý thiện lành của trí tuệ, nhằm bảo vệ lộ trình tu tập chứ không phải sự cố ý của bản ngã dính mắc.
Vì vậy, việc quán sát thuần túy và năm pháp đối trị không hề mâu thuẫn hay loại trừ lẫn nhau. Chúng là những công cụ khác nhau được sử dụng cho những trạng thái tâm thức khác nhau trên cùng một con đường diệt khổ. Hiểu rõ điều này, quý vị sẽ thấy lời dạy của Đức Thế Tôn vô cùng thực tế, khoa học và sòng phẳng, không hề có chỗ cho sự mơ hồ hay ngộ nhận.
Sãdhu Sãdhu Sãdhu!
