Phần trước: [GÓC HỎI ĐÁP & GIẢI NGHI] CÂU HỎI 181-190
CÂU HỎI 191: HIỂU ĐÚNG VỀ VÔ NGÃ VÀ SỰ VẬN HÀNH CỦA NGŨ UẨN
HỎI:
Xin Thầy chỉ dạy chúng con về vô ngã. Không có cái tôi phủ định hoàn toàn, mọi hành động của bản thân chỉ là ngũ uẩn sinh diệt theo các pháp, hay là không có cái tôi cố định thường hằng và độc lập ạ?
ĐÁP:
Vô ngã không phải là thứ học thuyết đoạn diệt sạch trơn, phủ nhận vạn pháp để rồi trượt dài vào sự vô trách nhiệm với luật nhân quả.
Chân lý ở đây chính là vế thứ hai mà con vừa hỏi: hoàn toàn vắng bóng một cái Ngã độc lập, cố định, thường hằng hay một ông chủ ẩn nấp bên trong để giật dây điều khiển.
Cái thứ mà con gọi là bản thân đang hành động, thực chất chỉ là một dòng thác ngũ uẩn cuồn cuộn sinh diệt chớp nhoáng trên từng sát-na. Nó vận hành trần trụi, lạnh lùng và minh bạch theo guồng máy Duyên Khởi và Nghiệp Quả.
Có hành động tạo tác, có quả báo trổ sinh, nhưng tuyệt đối không hề có một kẻ hành động hay kẻ thọ nhận quả báo xuyên suốt.
Sát-na Danh – Sắc trước vỡ nát làm duyên truyền trọn vẹn sức mạnh cho sát-na Danh – Sắc sau vọt sinh. Tốc độ sinh diệt quá khủng khiếp đó đã dệt nên một ảo ảnh khổng lồ đánh lừa phàm phu, khiến con hoang tưởng rằng có một cái Tôi đang trường tồn đứng sau mọi hiện tượng.
Chừng nào ngọn lửa tuệ quán bừng sáng, đâm toạc bức màn khái niệm để tự thân nếm được vị rỗng tuếch, vô chủ của vạn pháp ngay trên chính thân tâm này, thì cái lồng giam của ngã mạn tự khắc tan rã. Vô ngã không phải là lý thuyết mà phải tự thân thực hành chứng nghiệm.
CÂU HỎI 192: VÌ SAO TRONG KINH ĐIỂN THƯỜNG LẶP LẠI CON SỐ 7?
HỎI:
Dạ! Kính bạch Thầy!
Nhân việc Thầy giảng “Khi đối diện với Bậc Toàn Giác mà Ngài hỏi tới lần thứ ba mà không trả lời… thì đầu vỡ vụn thành bảy mảnh”, con cũng thấy trong kinh có nhắc nhiều đến con số 7 như: 7 Giác Chi, 7 Thánh Sản, Thất Thanh Tịnh gồm 7 bước thanh lọc, 7 mặt trời, vị Thánh Tu-đà-hoàn thì tái sanh không quá 7 kiếp.
Kính bạch Thầy, sao lại có nhiều số 7 lặp lại vậy ạ? Kính xin Thầy từ bi giảng giải cho chúng con được hiểu rõ hơn ạ.
Con xin kính tri ân Thầy. 🙏🙏
ĐÁP:
Số 7, số 4, số 5 hay số 8 thuần túy chỉ là Pháp Chế Định, một phương tiện giáo hóa để gom nhóm các danh mục, giúp Tăng đoàn dễ dàng tụng đọc, ghi nhớ và truyền thừa mà không bị sai lệch.
Thất Giác Chi hay Bảy Thánh Tài, cốt tủy sinh tử nằm ở việc con có vung gươm thực chứng được sự xả ly hay không, chứ tuyệt đối không có một chút phép thuật hay định mệnh nào ẩn chứa trong con số 7 đó cả.
Tu học Chánh Pháp là vung gươm Chánh Niệm chẻ đôi khối Danh – Sắc để phá nát vô minh, chứ không phải làm một kẻ mộng du đi thống kê số lượng danh mục.
Hãy thu nhiếp tâm ý lại, chấm dứt ngay trò chơi con số và quay về quan sát trần trụi sự sinh diệt ngay tại sát-na này.
CÂU HỎI 193: CHÁNH NIỆM TRONG CÔNG VIỆC VÀ CÁCH NHÌN TÂM PHÓNG DẬT
HỎI:
Kính bạch Thầy, Thầy chỉ dạy cho con.
Trong giờ làm việc, mặc dù con đã cố gắng tập trung Chánh Niệm vào công việc, tuy nhiên được khoảng một lúc là tâm con bắt đầu buồn chán và nhìn ngang liếc dọc theo cảnh trần. Có lúc bắt gặp cảnh trần thì con lại khởi lên suy nghĩ về cảnh trần đó. Hoặc tập trung làm việc được một lúc thì con lại bắt đầu khởi lên những suy nghĩ mông lung, suy nghĩ bất thiện, suy nghĩ sân hận về chuyện quá khứ và bị cuốn theo. Một lúc sau con mới nhận ra và con niệm ân Đức Phật.
Con hiểu đó là bản chất của tâm: vô thường, khổ, vô ngã. Nhưng con vẫn chưa hoàn toàn buông bỏ được chấp niệm ạ.
Thầy chỉ dạy thêm cho con với ạ!
Con xin kính tri ân Thầy!
ĐÁP:
Con nói con có hiểu bản chất tâm là vô thường, vô ngã, nhưng đó mới chỉ là sự ghi nhận trên mặt chữ nghĩa của tư duy, chưa phải là tuệ giác thực chứng. Nếu tuệ quán thực sự đâm toạc được bức màn ảo ảnh để thấy rõ sự rỗng tuếch, thì lấy đâu ra một cái Tôi đang phiền não và ra sức đòi buông bỏ chấp niệm ở đây?
Con đang tự giăng ra một cái bẫy rất vi tế trên đường hành thiền. Khi tâm phóng dật hay ngọn lửa sân hận vọt lên, con sinh tâm e ngại và vội vàng dùng việc niệm ân Đức Phật làm tấm khiên để đè nén nó xuống. Đây là sự đánh tráo pháp hành. Mượn một đề mục thiện để trốn chạy một trạng thái bất thiện đang hiện khởi chính là lấy đá đè cỏ. Bản chất ẩn sâu bên trong nó vẫn là sự chán ghét cảm thọ phiền não và tham ái một trạng thái bình an êm ái hơn. Đạo giải thoát tuyệt đối không đi qua sự né tránh hay lấp liếm sự thật.
Con phải khắc cốt ghi tâm điều này: Chánh Niệm không phải là người lính canh đi đàn áp hay nhào nặn tâm trí. Chánh Niệm thuần túy là sự ghi nhận trần trụi. Khi mắt lỡ dính mắc vào cảnh, hãy chẻ đôi sát-na đó ra: chỉ có cảnh trần đang hiện và tâm đang thấy, cả hai cọ xát vào nhau rồi lập tức hoại diệt. Khi những suy nghĩ mông lung hay hận thù quá khứ trồi lên, con tuyệt đối không được xua đuổi, cũng đừng vơ vét nó vào làm tâm của con để rồi tự dằn vặt.
Hãy lùi lại một bước. Đứng sừng sững tĩnh lặng mà quan sát cái khối bực dọc đó tự sinh lên rồi tự vỡ nát. Đang làm việc thì trọn vẹn với từng thao tác của thân. Tâm phóng dật thì dùng Chánh Niệm ghi nhận trần trụi: tâm đang phóng dật. Con không cần nhọc công làm một kẻ chạy theo sửa chữa vạn pháp. Chỉ cần con vững chãi đứng yên, nhìn thấu sự vô chủ của chuỗi Danh – Sắc đang lăng xăng sinh diệt ngay hiện tiền, mọi lồng giam chấp niệm tự khắc rụng rơi mà thôi.
CÂU HỎI 194: TUỆ PHÂN BIỆT NHÂN DUYÊN, TIỂU TU ĐÀ HOÀN VÀ TÙY TÍN HÀNH TÙY PHÁP HÀNH
HỎI:
Cho con hỏi, Tuệ thứ hai, Phân biệt nhân duyên, là vào Tu-đà-hoàn hướng hay là Tùy tín hành, Tùy pháp hành đúng không ạ?
ĐÁP:
Con đang nhầm lẫn giữa một trạng thái hiệp thế và một trạng thái siêu thế.
Tùy tín hành và Tùy pháp hành chính là tên gọi của bậc đang đứng trên Sơ Đạo. Khi tâm Đạo này khởi lên, vị ấy đã vĩnh viễn vượt khỏi địa vị phàm phu, bước vào dòng Thánh. Tâm Sơ Đạo bứng đứt tận gốc rễ kiết sử hoài nghi, tuyệt diệt vĩnh viễn không bao giờ sinh lại. Đặc biệt, nó chỉ tồn tại đúng một sát-na tâm duy nhất rồi lập tức cho Thánh Quả.
Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên, tức Tuệ thứ hai, vẫn hoàn toàn nằm trong giai đoạn phàm phu. Người đạt tuệ này là “Tiểu Tu Đà Hoàn” chỉ vì sự hoài nghi bị vắng mặt tạm thời nhờ sức mạnh quán chiếu của tuệ giác lúc đó. Nếu con buông bỏ hành thiền, phiền não sẽ trỗi dậy và con hoàn toàn có thể bị thối thất lui sụt.
Sở dĩ con và nhiều người nhầm lẫn là vì cùng nghe thấy chữ đoạn nghi, nhưng bản chất cách xa nhau một trời một vực. Một bên chỉ là đè nén tạm thời từng phần, một bên là nhổ bật gốc rễ vĩnh viễn.
Đừng bận tâm tìm xem mình đang ở đâu hay gán ghép danh xưng. Việc của con lúc này chỉ có một: tiếp tục ngồi xuống, tinh tấn ghi nhận Danh – Sắc đang sinh diệt ngay trong sát-na hiện tại. Chúc con tinh tấn.
CÂU HỎI 195: CHÚ TÂM HƠI THỞ KHI LÀM VIỆC CÓ PHẢI LÀ THỰC HÀNH SAI KHÔNG?
HỎI:
Kính bạch Thầy!
Trong lúc con làm việc hoặc sinh hoạt, con chủ động chú tâm vào hơi thở để biết hơi thở vào, biết hơi thở ra. Tuy nhiên chỉ được khoảng một thời gian ngắn là con lại tập trung vào việc đang làm và không chú tâm được vào hơi thở nữa.
Thầy chỉ dạy cho con, như vậy là con thực hành sai ở đâu ạ?
Con xin kính tri ân Thầy khai ngộ!
ĐÁP:
Trong một sát-na sinh diệt chớp nhoáng, tâm chỉ có thể bám sát và ghi nhận duy nhất một cảnh. Vĩnh viễn không bao giờ có chuyện tâm vừa neo đậu trên hơi thở, lại vừa nhạy bén xử lý được công việc thế gian.
Cái trạng thái mà con lầm tưởng là làm hai việc cùng lúc, thực chất chỉ là sự phóng nhảy qua lại với tốc độ cực kỳ nhanh của hàng tỷ sát-na tâm, luân phiên chớp nhoáng giữa cảnh hơi thở và cảnh công việc. Sự tương tục đảo điên đó đã giăng ra một ảo giác khổng lồ để đánh lừa tâm trí của con.
Con không hề thực hành sai ở kỹ thuật, mà con đang bị lòng tham ái vi tế dẫn dụ. Con thèm khát giữ rịt lấy trạng thái định tĩnh trên hơi thở, nhưng lại đòi hỏi thân phải lăng xăng xử lý công việc. Đạo giải thoát không dung chứa sự cưỡng cầu tham lam đó.
Hãy tỉnh giác nhận ra điều này. Khi tọa thiền nhắm mắt, hơi thở là đề mục đắc lực. Nhưng khi bước vào guồng quay sinh hoạt, thì chính công việc con đang làm phải lập tức trở thành đề mục thiền quán.
Tay đang nhấc, mắt đang nhìn, thân đang cúi, hãy tỉnh giác ghi nhận trần trụi ngay tại từng thao tác. Đang làm việc thì trọn vẹn với công việc, thấu suốt sự vô chủ của thân hành. Trọn vẹn ghi nhận thực tại ngay hiện tiền.
CÂU HỎI 196: TÂM, TÂM SỞ VÀ SỰ THỰC HÀNH CHÁNH NIỆM ĐỂ HƯỚNG TỚI SÁT-NA ĐỊNH
HỎI:
Dạ con kính bạch Thầy, trước tiên con kính Thầy từ bi tha tội cho con, nếu sự tầm cầu của con có bị sai lệch.
Con kính Thầy mở lòng bi mẫn giảng dạy cho con phương pháp hành thiền qua cách vận dụng tâm đi cùng với tâm sở để hướng tới sát-na định. Qua đó hằng ngày con sẽ cố gắng thực hành tu tập.
Con thành kính tri ân Thầy ạ.
ĐÁP:
Tâm và Tâm sở là một khối duyên sinh. Chúng tự động đồng sinh, đồng diệt, đồng bắt một cảnh và đồng nương một vật. Hễ một sát-na tâm vọt sinh là lập tức lôi kéo các tâm sở tương ưng đi kèm theo đúng guồng máy Duyên Khởi lạnh lùng.
Ở đó thực tại tuyệt đối rỗng tuếch, vĩnh viễn không hề có một cái Tôi, hay một ông chủ nào đứng sừng sững ở bên ngoài để nắm quyền nhào nặn, lắp ráp hay mưu toan vận dụng Tâm đi cùng Tâm sở.
Con phải thấu triệt chân lý này: sát-na định không bao giờ nảy sinh từ sự toan tính dàn xếp hay bóp nặn của ý thức. Nó chỉ bừng sáng một cách tự nhiên khi lưỡi gươm Chánh Niệm của con ghi nhận trần trụi và trọn vẹn khối Danh – Sắc đang hiện khởi ngay tại khoảnh khắc hiện tiền.
Mắt vừa chạm cảnh thì lập tức ghi nhận sự dính mắc. Tâm phiền não trồi lên thì nhận diện trọn vẹn sự thiêu đốt của nó ngay tại chớp mắt đó. Ngay tại sát-na tỉnh giác ấy, chỉ có đối tượng đang bị quan sát và sự ghi nhận tĩnh lặng, hoàn toàn vắng bóng một kẻ đang ra sức vận dụng hay điều khiển.
Hãy buông bỏ ngay cái ý niệm làm chủ để xắn tay áo bước vào thực hành Chánh Niệm miên mật đi con.
Chánh Niệm Tỉnh Giác đơn thuần chỉ là đang làm hành động gì thì hãy trọn vẹn ghi nhận hành động đó, đừng có đang làm cái này mà tâm lại phóng dật sang chuyện khác. Công thức nó chỉ có vậy, đừng cố làm nó phức tạp thêm.
Tay đang cầm ly nước biết rõ đang cầm ly nước, đang rót nước biết rõ đang rót nước… chỉ có vậy. Nghe đơn giản vậy nhưng để làm được vậy là cả một quá trình huân tập bền bỉ.
CÂU HỎI 197: PHÂN BIỆT MANASIKĀRA, CETANĀ VÀ CÁCH DÙNG CHỮ TÁC Ý
HỎI:
Thưa Thầy, khi đang tìm hiểu về Tác ý và Tư, trong một bài của Thầy, có chỗ đề cập Tác ý là Cetanā và là yếu tố tạo nghiệp; tuy nhiên, ở một số chỗ khác, con lại hiểu rằng Tác ý là Manasikāra, còn Tư là Cetanā, và Tư (Cetanā) mới là yếu tố tạo nghiệp.
Vì vậy, con đang hơi khó phân biệt cách sử dụng chữ “Tác ý” trong hai trường hợp này. Kính nhờ Thầy giải thích giúp sự khác nhau giữa Manasikāra và Cetanā, cũng như khi nào chữ “Tác ý” được dùng với nghĩa Cetanā, để con được hiểu cho đúng ạ.
ĐÁP:
Khi đọc các bài của tôi hay nghe chư vị giảng sư khác tại Việt Nam, quý vị sẽ thấy tôi rất hay khẳng định Tác ý chính là yếu tố tạo nghiệp. Nếu chỉ mang cái đầu óc mọt sách ra đong đếm, quý vị sẽ lật đật thắc mắc tại sao không gọi chuẩn xác là Tư tâm sở theo đúng khuôn mẫu Vi Diệu Pháp. Đây chính là cái bẫy hý luận cực kỳ nguy hiểm của những kẻ kẹt cứng vào vỏ bọc danh từ.
Về mặt Chân lý tối thắng, cơ chế bẻ ghi hướng tâm thuần túy bắt cảnh là Manasikāra, còn sự rắp tâm cố ý điều phối các tâm sở khác tạo tác mới thực sự là Cetanā. Thế nhưng, Thế Tôn đã minh định cho phép dùng ngôn ngữ bản địa để truyền bá Giáo Pháp. Quý vị phải thấu triệt chiều sâu của phương tiện thiện xảo ở đây.
Trong ngôn ngữ đời sống và thực hành thiền quán của người Việt, khi nói đến cụm từ khởi tâm tác ý, đại chúng tự động nhận diện ngay đó chính là sự rắp tâm, là ý đồ tạo tác, tức là chỉ thẳng vào sức mạnh sinh nghiệp của Cetanā.
Tôi cố tình mượn ngôn ngữ trần trụi và quen thuộc của thế gian thuần túy làm chiếc bè phương tiện, cốt để lột tả sự thật một cách bén nhọn và trực diện nhất. Mục đích tột cùng là để quý vị nắm được cốt lõi pháp hành, ngay lập tức nhìn thấu sự thôi thúc tạo nghiệp đang cuồn cuộn dấy lên trong tâm, từ đó tuốt gươm Chánh Niệm chém đứt nó ngay tại sát-na hiện khởi mà không cần phải loay hoay truy bài lý thuyết.
Học Pháp mà máy móc ôm khư khư cuốn từ điển để bắt bẻ từng vỏ bọc ngôn từ thì vĩnh viễn chỉ là kẻ mộng du đâm đầu vào hố sâu sinh tử. Kẻ trí thì nương theo bè pháp xé toạc vô minh, soi rọi thẳng vào khối Danh – Sắc rỗng tuếch vô chủ đang sinh diệt chớp nhoáng. Còn kẻ ngã mạn lý thuyết thì tự trói mình vào mớ khái niệm khô cằn để rồi muôn kiếp chết chìm trong luân hồi.
Tu học là để vung gươm chẻ đôi sinh tử, tuyệt đối không phải để làm một học giả hý luận rỗng tuếch.
CÂU HỎI 198: KHI THẤY NGƯỜI KHÁC VUI THÚ THẾ GIAN VÀ TÂM KHỞI SÂN NGÃ MẠN VI TẾ
HỎI:
Kính bạch Thầy. Xin Thầy chỉ dạy cho con ạ!
Khi thấy người xung quanh nói về chuyện vui thú thế gian, con khởi lên cảm thọ khó chịu và cảm giác rằng mọi người chưa thấy bản chất cuộc sống là “khổ” nên họ vẫn vui vẻ. Con tri kiến rằng cảm thọ khó chịu đó là tâm sân do căn trần tiếp xúc với ngoại cảnh không phù hợp nên tạo thành “thức” bất mãn khó chịu với cảnh trần.
Lúc này con cần thực hành Chánh Niệm để quan sát cảm thọ sân sinh khởi và hoại diệt theo luật vô thường thay vì cuốn theo cảm thọ sân đó và bất mãn với những người đó. Có lúc con bất mãn và nói lời gay gắt. Con cũng hiểu rằng mỗi người có một dòng nghiệp riêng, hồi xưa con cũng như họ, thay vì khó chịu và ngầm coi mình hiểu hơn họ vì mình biết tới Chánh Pháp thì đó lại là ngã mạn vi tế đội lốt người tu tập.
Con hiểu như vậy có đúng không ạ?
Con xin thành kính tri ân Thầy khai ngộ!
ĐÁP:
Con không có sai gì cả, con chỉ sai khi biến mọi thứ thành lý thuyết suy nghĩ trên mặt chữ của trí năng thôi. Điều con cần làm là quăng mớ lý thuyết đó sang một bên, chỉ trần trụi ghi nhận những gì thực sự có mặt ngay hiện tại.
Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy.
Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe.
Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng.
Trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri.
– Đức Phật –
Sân biết rõ có tâm sân, không đồng hóa nó, chỉ quan sát thực tại là đang có tâm sân, đang có cảm thọ khó chịu. Chỉ có vậy thôi. Đừng có cố tình suy diễn gì thêm vào.
Ghi nhận – quan sát.
Nó tự khắc sẽ hoại diệt theo quy luật vô thường. Không cần ngồi mà suy ngẫm tính toán gì.
CÂU HỎI 199: KHI TÂM SÂN KHỞI LÊN TRƯỚC KHÓI THUỐC THÌ NÊN QUAN SÁT HAY RỜI ĐI?
HỎI:
Thưa Thầy cho con hỏi. Ví dụ con gặp một trường hợp khởi tâm sân. Gặp người hút thuốc chẳng hạn, con cảm thấy khó chịu, muốn người đó ngừng hút thuốc ngay. Con quan sát cảm thọ đó: khó chịu, ngứa ngáy, buồn bực.
Vậy con nên quan sát rồi để tự nhiên hay hành động là sẽ đi khỏi chỗ khói thuốc đó ạ?
ĐÁP:
Chánh Niệm là lưỡi gươm chẻ đôi sự dính mắc bên trong nội tâm, chứ vĩnh viễn không bắt nhục thân này phải đứng chết trân một chỗ để hít khói độc.
Khi khói thuốc xộc vào tỷ căn làm cảm thọ khó chịu trồi lên, việc đầu tiên là con phải tuốt gươm tỉnh giác soi rọi trần trụi khối bực dọc và sự hằn học đang thiêu đốt đó. Phải nhìn thấu nó thuần túy chỉ là chuỗi Danh – Sắc sinh diệt vô chủ, tuyệt đối không hùa theo mưu đồ muốn tiêu diệt người hút thuốc.
Nhưng ngay sau khi Chánh Niệm đã ghi nhận rốt ráo sự vỡ nát của cái tâm sân ấy, con hoàn toàn có quyền cất bước rời đi chỗ khác.
Việc con tĩnh lặng dời gót để tránh né trần cảnh bằng sự tỉnh giác hoàn toàn khác một trời một vực với việc con vùng vằng bỏ chạy vì bị ngọn lửa sân hận sai sử.
Hành động dời đi chỉ là một thân hành trung tính. Cốt tủy sinh tử nằm ở chỗ con nhấc chân bước đi bằng trí tuệ xả ly hay bằng sự bực dọc giãy giụa.
CÂU HỎI 200: CÁI BIẾT, THỨC TRI VÀ ẢO TƯỞNG VỀ NGƯỜI QUAN SÁT
HỎI:
Bạch Thầy. Trong cái thức tri, chỉ là cái thức tri. Con ngu muội hiểu là sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức là do căn tiếp xúc cảnh trần. Mỗi cảnh khác nhau, mỗi thời khắc khác nhau, mỗi duyên khác nhau lại có các thức khác nhau. Nó không cố định, luôn thay đổi sinh, diệt nên cái thức tri chỉ là cái thức tri.
Cái biết tất cả các thức đó có phải là tâm thức không ạ? Cái chúng con cần làm là luyện cái tâm đó tỉnh giác, không cho nó chạy về quá khứ, chạy tới tương lai. Giữ cho cái tâm biết ngay tại khoảnh khắc thức sanh khởi. Khi giữ được cái tâm đó biết chỉ để biết thì đó là Chánh Niệm được thiết lập. Khi Chánh Niệm đủ giữ được tâm không chạy tới, lui thì định lực được hình thành.
Con mong Thầy khai ngộ cho con để con hành trì cho đúng ạ.
Sādhu! Sādhu! Sādhu!
ĐÁP:
Cái mà con lầm tưởng là người quan sát, thực chất thuần túy chỉ là một sát-na Ý thức có chứa tâm sở Chánh Niệm sanh khởi ngay phía sau, làm nhiệm vụ bắt lấy cái thức vừa hoại diệt ở phía trước để ghi nhận.
Chúng nối đuôi nhau sinh lên rồi vỡ nát với tốc độ cuồng phong, sinh diệt liên tục bám sát nhau tạo ra một ảo giác khổng lồ đánh lừa phàm phu rằng có một người thường hằng đang quan sát. Thực tại rốt ráo chỉ có sự nhận biết sanh diệt chớp nhoáng, vĩnh viễn vắng bóng kẻ nhận biết.
Lại nữa, con muốn giữ cho tâm không chạy tới chạy lui. Con lấy cái quyền năng gì mà đòi giam cầm sự vận hành của pháp hữu vi? Tu thiền quán dứt khoát không phải là làm một viên cai ngục ra sức túm cổ nhào nặn hay kìm kẹp tâm trí.
Khi tâm phóng về quá khứ, Chánh Niệm ghi nhận trần trụi ngay sát-na phóng dật đó. Ngay khi bị tuệ giác chiếu soi, cái tâm phóng dật tự nó hoại diệt. Sự sắc lạnh chiếu soi liên tục không gián đoạn trên từng chớp mắt sẽ tự động kết tinh thành định lực vô ngã. Dứt khoát không có một bản ngã nào đang ra sức kìm giữ hay luyện tập ở đây cả.
Chỗ nào con còn tơ tưởng về một kẻ đứng ngoài để biết và thao túng thực tại, chỗ đó bánh xe luân hồi còn nghiền nát thân con. Hãy đập tan ảo tưởng về người quan sát, buông bỏ mớ hý luận kìm kẹp đó đi và xắn tay áo lên nhìn thấu sự sinh diệt trần trụi ngay hiện tiền đi con.
