Phần trước: [GÓC HỎI ĐÁP & GIẢI NGHI] CÂU HỎI 151-160
CÂU HỎI 161: VÔ NGÃ TRONG CHÁNH PHÁP CÓ GIỐNG VÔ VI CỦA ĐẠO GIÁO KHÔNG?
HỎI:
Bạch Thầy, thầy chỉ dạy cho con. Con hiểu “dứt sạch sự bám chấp vào thân, tâm” nghĩa là đã thấu triệt tuệ quán “vô ngã”. Không còn dính mắc vào bất cứ thứ gì trên đời, sống mà không có người sống, hành động mà không cầu kết quả, không còn mong mọi sự phải theo ý mình. Con thấy triết lí “vô vi” trong Đạo giáo cũng có nghĩa như vậy, con hiểu như thế có đúng không ạ?
ĐÁP:
Triết lý vô vi của Đạo giáo là thái độ sống nương theo tự nhiên không gượng ép. Tuy nhiên, Đạo giáo vẫn ngầm coi Đạo hay Tự Nhiên là một bản thể tối cao vĩnh hằng. Trong Chánh pháp, việc tin hay bám chấp vào một bản thể vũ trụ thường hằng như vậy vẫn là một dạng tà kiến vi tế.
Vô ngã trong Chánh pháp không phải là một triết lý hay thái độ sống do trí óc cố tưởng tượng ra rằng mình đang sống mà không có cái tôi. Vô ngã là một thực tại chân thật. Khi thực hành chánh niệm trên thân và tâm, quý vị sẽ thấy rõ mọi cảm giác và suy nghĩ đều liên tục sinh lên rồi diệt đi. Chúng biến đổi từng khoảnh khắc và hoàn toàn không có một cái tôi hay một linh hồn nào sở hữu điều khiển được chúng. Sự dứt sạch bám chấp xảy ra là nhờ trí tuệ trực tiếp thấy rõ sự thật này, chứ không phải do sự suy ngẫm suông bằng trí óc.
Từ vô vi dùng để chỉ trạng thái Niết-bàn, tức là sự dập tắt hoàn toàn ngọn lửa tham, sân, si và chấm dứt mọi phiền não. Đây là sự giải thoát hoàn toàn khỏi vướng mắc sinh tử, chứ không phải là lối sống thong dong tùy duyên theo kiểu thế gian.
Đối với người mới bắt đầu tu tập, việc dùng trí óc để so sánh các triết lý chỉ làm tâm thêm rối bời và rơi vào suy tưởng. Quý vị không cần cố ép mình phải sống vô ngã hay sống vô vi. Hãy quay về quan sát thực tại ngay nơi thân tâm mình. Hãy ghi nhận rõ ràng từng hơi thở, từng điểm đụng chạm trên cơ thể và từng dòng suy nghĩ đang đến rồi đi. Sự thấy biết đơn thuần ngay trong hiện tại mới là con đường duy nhất dẫn đến trí tuệ giải thoát chân thật.
CÂU HỎI 162: QUAN SÁT NGŨ UẨN VÀ TRIỀN CÁI VÀO LÚC NÀO?
HỎI:
Dạ con xin kính đảnh lễ Thầy ạ.
Con đã đọc và hành theo các bài hướng dẫn thiền của Thầy. Nhưng con không hiểu điểm này: Trong quá trình thiền thì chỉ nên quan sát thân – tâm. Ví dụ như tâm tham thì biết có tâm tham, tâm sân thì biết có tâm sân, thân đau ở đâu thì biết ở đấy.
Vậy việc quan sát ngũ uẩn, các triền cái thì quan sát vào lúc nào trong quá trình thiền hay trong cuộc sống hàng ngày ạ?
Con kính xin Thầy chỉ rõ hơn cho con ạ. Vì con mới gặp Chánh pháp nhờ đọc được Facebook của Thầy và đang tập hành thiền nên con còn ngu muội rất nhiều ạ. Con xin thành kính tri ân công Đức của Thầy ạ.
ĐÁP:
Sự thắc mắc của quý vị rất thực tế và đây cũng là vướng mắc chung của rất nhiều người mới bắt đầu tu tập. Trước hết, quý vị cần hiểu rằng việc quan sát thân tâm và việc quan sát ngũ uẩn hay các triền cái không phải là hai công việc tách biệt, cũng không phải là hai cấp độ thiền khác nhau. Ngũ uẩn hay các triền cái thực chất chỉ là những tên gọi dùng để chỉ ra các thành phần và các trạng thái đang hiện diện ngay trên thân tâm quý vị.
Khi quý vị nhận biết tâm mình đang có sự bực bội, mong cầu, lười nhác hay nghi ngờ, đó chính là quý vị đang quan sát các triền cái. Khi quý vị nhận biết một cơn đau trên thân, thì chính tấm thân này là sắc uẩn, cảm giác đau đớn là thọ uẩn, sự nhận biết cơn đau là thức uẩn, và thái độ muốn xua đuổi cơn đau là hành uẩn. Như vậy, ngay trong khoảnh khắc quý vị ghi nhận một cảm giác hay một dòng suy nghĩ, quý vị đã và đang quan sát ngũ uẩn rồi.
Quý vị không cần phải cố gắng dùng trí óc để phân tích hay gọi tên xem đâu là sắc, đâu là thọ, đâu là hành rồi mới gọi đó là thiền. Việc cố phân tích bằng tư duy chỉ làm cho tâm bị phân tán và rơi vào suy tưởng suông mà thôi.
Về thời điểm thực hành, quý vị không chỉ quan sát trong lúc ngồi thiền yên tĩnh, mà phải duy trì sự hay biết này trong suốt cuộc sống hằng ngày. Bất cứ khi nào mắt thấy, tai nghe, thân đi, đứng, nằm, ngồi, hay khi tâm khởi lên các cảm xúc thích, ghét, thương, giận, đó đều là thời điểm quý vị quay về chánh niệm.
Hãy giữ sự thực hành đơn giản và chân thật nhất. Dù là lúc ngồi thiền hay khi đang sinh hoạt đời thường, chỉ cần quý vị hay biết rõ ràng những gì đang xảy ra ngay nơi thân và tâm mình trong hiện tại, không dính mắc, không xua đuổi, không mong cầu, thì đó chính là quý vị đang đi đúng con đường giải thoát mà Đức Phật đã chỉ dạy.
CÂU HỎI 163: ĐIỀU PHỤC TÂM LƯỜI BIẾNG VÀ TÁN LOẠN KHI ĐỌC KINH
HỎI:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch Thầy, con kính mong Thầy từ bi chỉ dạy cho con. Dạo này việc tu tập của con hay khởi lên tâm lười biếng, tán loạn, nhất là bị lười biếng khi con muốn đọc Kinh tạng Nikāya. Con lại bị uể oải và tâm con nghĩ mình còn rất nhiều thời gian, con chưa biết phải quay về quán chiếu hay điều phục như thế nào cho đúng Chánh pháp. Cúi xin Thầy thương xót hướng dẫn thêm cho con được sáng tỏ.
ĐÁP:
Thầy rất hoan hỷ khen ngợi sự trung thực của con khi dám nhìn thẳng vào những chướng ngại nơi tâm mình ở độ tuổi 16. Mới bắt đầu tu học mà gặp phải tình trạng lười biếng, tán loạn hay uể oải là điều hết sức bình thường, con không cần phải hoang mang hay tự dằn vặt bản thân.
Suy nghĩ mình còn rất nhiều thời gian chính là sự dễ duôi, chướng ngại lớn nhất của người tu học. Cái nghĩ mình mới 16 tuổi và còn cả đời phía trước chỉ là sự lừa mị của vô minh, vì sự sống thực chất chỉ nằm trong một hơi thở, thở ra mà không hít vào là đã qua kiếp khác rồi, và sự chết thì chẳng bao giờ phân biệt tuổi trẻ hay tuổi già. Mỗi khi tâm khởi lên sự lười biếng hay muốn hoãn lại việc đọc kinh, con hãy lập tức tự nhắc nhở mình rằng chắc gì ta còn sống đến ngày mai để tu học, để từ đó tạo ra sự rúng động thức tỉnh trong tâm và đập tan cơn lười biếng.
Bên cạnh đó, con cần thay đổi cách tiếp cận khi đọc Kinh tạng. Đừng ép bản thân phải đọc quá nhiều trang một lúc dẫn đến ngán nản, mà mỗi ngày chỉ cần đọc một đoạn ngắn rồi suy ngẫm để ứng dụng vào đời sống. Nếu thấy mắt dại đi hay người uể oải, con hãy đứng dậy rửa mặt bằng nước lạnh, đứng đọc hoặc vừa đi lại chậm rãi vừa đọc thành tiếng, chứ đừng tiếp tục ngồi nuông chiều tấm thân. Khi đang đọc mà tâm bị phóng dật suy nghĩ vớ vẩn, hãy dừng lại quay về ghi nhận hơi thở ra vào một vài phút cho tâm lắng xuống rồi mới tiếp tục.
Điều quan trọng nhất là con hãy tập quan sát cái lười bằng chánh niệm. Khi sự uể oải hay tán loạn khởi lên, đừng tức giận và cũng đừng nhận đó là cái lười của mình, mà hãy lùi lại làm người quan sát và nhận biết rõ ràng rằng tâm đang có sự lười biếng. Hãy nhìn nó sinh lên, duy trì rồi tự diệt đi như một hiện tượng tự nhiên. Khi con quan sát nó mà không phản ứng, không nuông chiều cũng không xua đuổi, con sẽ thấy cái lười không phải là con, nó hoàn toàn vô ngã và sẽ tự động tan biến.
Được gặp Chánh Pháp ở tuổi 16 là một phước báu rất lớn, nên con hãy coi những khó khăn này là bài tập thực hành để rèn luyện sự tinh tấn. Đừng vội vã hay nôn nóng, nhưng tuyệt đối không được dễ duôi. Thầy chúc con luôn giữ vững đạo tâm và ngày càng tiến bộ trên con đường tu học.
CÂU HỎI 164: VÌ SAO CÙNG SINH CÕI TRỜI NHƯNG QUẢ BÁU KHÁC NHAU?
HỎI:
Dạ! Kính Bạch Thầy🙏🙏🙏 Con thiết nghĩ khi ở cõi người họ có tạo các công đức thiện lành nên sau khi mãn thọ họ mới được tái sinh về cõi Chư Thiên. Vậy do nhân gì mà có những vị sống thọ và hưởng dục lạc quá nhiều, và có những vị khi vừa mở mắt chưa hưởng lạc thú được ngày nào thì lại phải đi chiến đấu sống chết với A-tu-la ạ? Con còn khúc mắc chỗ này, kính xin Thầy từ bi giảng giải cho chúng con thấu rõ và sáng tỏ hơn ạ. Con kính xin tri ân Thầy🙏🙏🙏
ĐÁP:
Việc cùng tái sinh về cõi Chư Thiên nhưng mỗi vị lại có thọ mạng, sự an lạc hay hoàn cảnh sống hoàn toàn khác nhau là do sự khác biệt trong tính chất của thiện nghiệp mà mỗi người đã gieo trồng khi còn ở cõi người. Những vị Chư Thiên có thọ mạng dài lâu, hưởng trọn vẹn vô lượng dục lạc hay chìm đắm trong sự an lạc là nhờ trong quá khứ họ đã làm các việc thiện với một tâm thức hoàn toàn thanh tịnh, hoan hỷ, có sự hiểu biết đúng đắn và không chen lẫn các tâm phiền não. Sự bố thí, giữ giới hay tu tập của họ được thực hiện thuần khiết, không đi kèm sự tranh chấp, đố kỵ hay tham vọng hơn thua với bất kỳ ai. Thiện nghiệp mạnh mẽ và trọn vẹn ấy tạo nên một quả báu vô cùng lớn, giúp họ tận hưởng sự an lành kéo dài suốt hàng ngàn hàng vạn năm nơi cõi trời.
Trường hợp những vị vừa sinh lên cõi trời đã phải đối mặt với cảnh chiến tranh, xung đột với loài A-tu-la là do nghiệp xen tạp khi họ tích lũy công đức. Lúc sống ở cõi người, họ có tạo các thiện nghiệp như giúp đỡ mọi người, giữ giới hay cúng dường, nhờ lực của thiện nghiệp đó mà họ đủ phước báu để thoát khỏi các cõi khổ và tái sinh về cõi trời. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc thiện, tâm họ lại chen lẫn sự hiếu chiến, sân hận, tính cách nóng nảy, thích tranh giành thắng thua hoặc mang lòng thù hận. Chính phần tâm sân và sự hiếu chiến này đã tạo thành cái duyên kéo họ vào những cảnh giới hay những thời kỳ xảy ra xung đột, chiến tranh. Họ có phước báu để mang thân Chư Thiên, nhưng chính cái nghiệp sân còn sót lại đã bắt họ phải nếm trải sự sợ hãi, chấn động và căng thẳng của cuộc chiến ngay khi vừa xuất hiện.
Qua đó quý vị có thể thấy, luật nhân quả vận hành cực kỳ công bằng và chi tiết, không một mảy may sai lệch. Một chút tâm sân hay hiếu chiến đi kèm với việc thiện cũng đủ để biến phước báu nơi cõi trời thành một nơi có sự tranh đấu. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng, cõi Chư Thiên dù sung sướng hay uy quyền thì vẫn nằm trọn trong vòng sinh tử vô thường và vẫn bị nghiệp lực chi phối. Mục tiêu tối thượng của người tu học không phải là cầu sinh lên cõi trời để hưởng lạc hay tranh đấu, mà là thanh lọc tâm thức, diệt trừ tận gốc tham, sân, si ngay trong hiện tại để đạt đến sự giải thoát hoàn toàn khỏi mọi cõi tái sinh.
CÂU HỎI 165: CHỈ HỌC NIKĀYA THÌ CÓ HIỂU ĐƯỢC CHÍN ÂN ĐỨC PHẬT KHÔNG?
HỎI:
Thưa quý vị tiền bối, con chỉ niệm chín Ân Đức Phật theo Kinh Nikāya. Con chưa tìm thấy ý nghĩa về chín Ân Đức Phật trong Kinh Nikāya; về ý nghĩa con chỉ nghe có trong Chú giải thôi. Vậy con chỉ học theo Nikāya có được không ạ?
ĐÁP:
Ý nghĩa của chín Ân Đức Phật như Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn đều do chính Đức Phật trực tiếp giải thích rõ ràng rải rác xuyên suốt trong Tạng Kinh Nikāya, chứ không phải chỉ có trong Chú giải. Chẳng hạn, bậc Ứng Cúng được Ngài định nghĩa là vị đã diệt sạch phiền não, bẻ gãy bánh xe sinh tử; Minh Hạnh Túc là sự trọn vẹn giữa Trí Tuệ và Giới Hạnh; Thiên Nhân Sư là bậc Thầy chỉ đường cho chư thiên và loài người. Chú giải chỉ làm nhiệm vụ tổng hợp và hệ thống lại cho dễ tra cứu.
Nếu quý vị chọn chỉ học theo Nikāya thì hoàn toàn tốt, vì đó là Kim Ngôn gốc của Đức Phật. Tuy nhiên, quý vị cần nỗ lực đọc rộng và nghiên cứu sâu sắc toàn bộ Tạng Kinh để thấy trọn vẹn ý nghĩa Chánh Pháp, tránh việc mới đọc lướt qua đã vội kết luận.
CÂU HỎI 166: QUY Y TAM BẢO CÓ BẮT BUỘC PHẢI LÀM Ở CHÙA KHÔNG?
HỎI:
Kính Thầy cho phép con hỏi: sự Quy y Tam Bảo có bắt buộc phải thực hiện ở chùa để có thầy tổ hoặc thầy tế độ chứng kiến, truyền giới, chúc phúc cho không? Con có hỏi một vị sư thì được trả lời là nếu con tự làm, tự phát nguyện tại gia thì con không có thầy tổ truyền giới, không được tròn đầy lễ quy y và cũng không có ý nghĩa gì. Xin Thầy từ bi giảng cho con🙏🙏🙏
ĐÁP:
Quy y Tam Bảo bản chất là sự khởi tâm thành kính, có niềm tin trong sạch và sự hiểu biết đúng đắn hướng về Phật, Pháp, Tăng. Việc tự phát nguyện quy y tại gia trước hình tượng Phật với tâm thức trọn vẹn hoàn toàn thành tựu và có giá trị chân thật.
Sự chứng minh của chư Tăng hay lễ nghi tại chùa chỉ là hình thức trợ duyên giúp gia tăng sự trang nghiêm, chứ không phải là điều kiện bắt buộc quyết định sự trọn vẹn của việc quy y. Chốn nương tựa Tam Bảo chân thật nằm ngay ở sự thức tỉnh và niềm tin nơi tâm, chứ không nằm ở một nghi lễ bên ngoài.
CÂU HỎI 167: TỤNG KINH CÓ PHẢI LÀ MỘT PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP THIỀN ĐỊNH KHÔNG?
HỎI:
Tôi có cách nhìn khác về việc tụng kinh như sau: đây là kiểu tập luyện làm cho các giác quan tập trung vào một việc đơn giản, mắt nhìn cuốn kinh, tai nghe tiếng mình đọc kinh, tay gõ nhịp theo lời kinh, thân an tọa đối diện với kinh.
Đây là kiểu tập luyện đầu tiên trong quá trình tu hành, thiền định. Giai đoạn này khá dài vì đại đa số người ta thường có trạng thái ý, khẩu và thân phân tán trong các hoạt động hàng ngày.
ĐÁP:
Việc mắt nhìn, tai nghe, tay gõ, miệng đọc thực chất là tâm đang liên tục chuyền qua nhiều cửa giác quan, gồm các ngũ môn và ý môn. Gom nhiều hoạt động của các giác quan vào cùng một việc có thể tạo nên một mức độ tập trung nhất định thuộc Dục giới, nhưng không vì thế mà được xem là Thiền định hay Chánh Định.
Chánh Định theo lời Đức Phật không đơn thuần là khả năng làm cho các giác quan cùng chú ý vào một hoạt động. Khi tâm tiến vào Thiền (Jhāna), tâm phải ly dục, ly các bất thiện pháp, vượt khỏi sự chi phối của các đối tượng giác quan và an định vững chắc trên một đề mục.
Mục đích chân thật của việc tụng kinh trước hết là ôn lại Lời Phật Dạy, ghi nhớ và suy ngẫm ý nghĩa Chánh Pháp. Khi hiểu đúng kinh văn, tâm có thể phát sinh thiện pháp, sự hoan hỷ, tín tâm và trí tuệ. Vì vậy, giá trị của tụng kinh nằm ở sự hiểu biết và tác ý chân chánh đối với Giáo Pháp, chứ không phải ở việc biến mắt, tai, miệng và tay thành một bài tập phối hợp giác quan.
Nếu chỉ tụng đọc và gõ nhịp theo thói quen một cách máy móc mà không hiểu ý nghĩa kinh văn, thì bản thân hoạt động ấy không tự động đưa đến Thiền định hay Trí Tuệ. Sự lặp lại thuần túy cũng không nên được đồng nhất với tiến trình tu tập tâm.
Do đó, cần phân biệt rõ: tụng kinh có thể là một thiện pháp và là phương tiện học, ghi nhớ, suy ngẫm Chánh Pháp; còn tu tập Thiền định là một tiến trình huấn luyện tâm có phương pháp và điều kiện riêng. Việc nhiều giác quan cùng tham gia vào một hoạt động không phải là tiêu chuẩn để xác định Chánh Định.
CÂU HỎI 168: PHÂN ĐỊNH CHÁNH TÀ CÓ PHẢI LÀ NGÃ MẠN VÀ THIẾU TỪ BI?
HỎI:
Khi mình chấp vào bản thân cao siêu hơn người khác trong đạo Phật thì đó là vô minh khoát áo tu tập , nếu ông đã hiểu được lời kinh rồi thì ông phải thương cho những người còn chưa biết đến lời kinh hay hiểu nó vì đó là chân lý của Đức Phật chứ không phải phê phán , mỉa mai họ .
ĐÁP:
Phân định Chánh Tà để bảo vệ sự thuần khiết của Giáo Pháp hoàn toàn khác với tâm ngã mạn hay coi thường người khác. Việc vạch rõ tà kiến và sự ngộ nhận là trách nhiệm của người có Chánh Kiến.
Xuyên suốt Tạng Kinh Nikaya, Đức Phật chưa bao giờ thỏa hiệp hay cào bằng sự sai lệch dưới danh nghĩa từ bi. Ngài luôn chỉ rõ Chánh Pháp và Tà Pháp một cách minh bạch, trực diện để cứu gỡ chúng sinh khỏi sự lầm lạc.
Từ Bi trong Đạo Phật buộc phải đi cùng Trí Tuệ. Thương một người đang uống nhầm độc tố không phải là mỉm cười vuốt ve hành vi của họ, mà là kiên quyết chỉ rõ đó là độc tố để họ thức tỉnh. Lấy danh nghĩa lòng thương để bao che hay cào bằng giữa sự hiểu đúng và hiểu sai chính là sự dung túng cho tà kiến phát triển.
Sự phân định ở đây là vạch ranh giới rõ ràng giữa Chánh Pháp và Tà Pháp, chứ không công kích cá nhân. Khi tà kiến bị vạch trần, nếu một người còn dính mắc vào cái TÔI thì sẽ coi đó là sự phê phán hay mỉa mai.
Ngược lại, người có tinh thần cầu học chân thật sẽ coi đó là ngọn đuốc soi rọi giúp mình thoát khỏi sự hoang tưởng trên con đường tu tập.
CÂU HỎI 169: PHÁP HỌC, PHÁP HÀNH VÀ PHÁP THÀNH CÓ PHẢI LÀ SỰ DÍNH MẮC?
HỎI:
Thưa thầy, thời đức Phật, ngài giáo hóa cho mọi đối tượng bằng cách chỉ thẳng nhân khổ và cắt nhân khổ ngay tức thì, chứ đâu có nói phải tu phải dính mắc vào pháp học pháp hành pháp thành đúng không ạ 🙏
ĐÁP:
Hiểu như vậy là sự ngộ nhận nghiêm trọng do chưa thấy rõ sự vận hành của Ba-la-mật và lộ trình Bát Chánh Đạo trong Chánh Pháp rồi. Những bậc chứng ngộ ngay lập tức thời Đức Phật không phải ngẫu nhiên mà có. Họ đã tích lũy căn tính Ba-la-mật sâu dày qua vô số kiếp sống. Lời dạy của Đức Phật đối với họ chỉ là mồi lửa cuối cùng châm vào đống củi đã hoàn toàn khô rụi. Sự ngộ đó chính là kết quả chín muồi của quá trình Pháp học và Pháp hành miên mật từ rất nhiều đời trước, chứ không hề có sự đột biến hay may mắn ngẫu nhiên.
Pháp học, Pháp hành và Pháp thành là ba giai đoạn bắt buộc không thể tách rời của Chánh Pháp. Nếu không có Pháp học tức là không nghe Chánh Pháp, làm sao biết đâu là nhân khổ để mà cắt. Khi Đức Phật thuyết giảng một câu kinh, hành giả lắng nghe chính là Pháp học, tâm lập tức soi rọi thân tâm ngay lúc đó chính là Pháp hành, và sự diệt trừ phiền não chính là Pháp thành. Dù tiến trình diễn ra trong một sát-na hay trọn cả cuộc đời thì vẫn bắt buộc phải đi qua đủ ba nấc thang này.
Nương tựa Pháp học và Pháp hành hoàn toàn không phải là sự dính mắc, mà là sử dụng phương tiện đúng đắn. Trong bài kinh Ví dụ chiếc bè, Đức Phật đã chỉ rõ người muốn sang sông bắt buộc phải đóng bè và dùng bè để qua bờ bên kia. Người chưa sang tới bờ mà đã vội vã từ bỏ Pháp học và Pháp hành vì sợ dính mắc, thì chỉ là kẻ đang tự chìm nghỉm giữa dòng sông sinh tử do sự hoang tưởng và tà kiến của bản ngã.
CÂU HỎI 170: CHÁNH PHÁP CỦA ĐỨC PHẬT CÓ PHẢI LÀ NHỮNG CÂU TỪ BÍ HIỂM KHÔNG?
HỎI:
Kinh kệ con người có thể hiểu đc 30-40%. Câu trì chú bồ tát còn chưa hiểu được huống chi người thường
ĐÁP:
Chánh Pháp của Đức Phật mang đặc tính Mở ngỏ và Thiết thực hiện tại để người trí tự mình chứng hiểu, chứ tuyệt đối không phải là những mật ngôn bí hiểm. Trong Tạng Kinh, Đức Phật khẳng định Ngài trao truyền Giáo Pháp với bàn tay mở rộng, không hề giấu giếm bất kỳ bí mật nào.
Việc tụng đọc những câu từ mà bản thân không hiểu nghĩa thực chất chỉ là hành vi rơi vào Giới cấm thủ và sự vận hành của tâm Si, bởi không hiểu ý nghĩa thì không thể suy ngẫm hay ứng dụng để đoạn trừ phiền não.
Lấy sự u mê của bản thân làm thước đo rồi biến Lời Phật dạy thành những câu thần chú đánh đố chính là sự hạ thấp Trí Tuệ Chánh Biến Tri của Đức Phật.

1 comment
Nguyện đem phước lành này làm duyên, đoạn trừ các ô nhiễm nơi tâm, thành tựu trí tuệ sắc bén và sự tinh tấn, tăng trưởng Giới–Định–Tuệ, hướng đến Niết-bàn!
Nguyện cho con sinh ra ở đâu cũng luôn được gặp Chánh pháp, gần gũi thiện tri thức và bậc thầy chân chính, xa lìa bạn ác và tà kiến!
Xin hồi hướng công đức này đến tất cả chúng sinh được an vui, giảm bớt khổ đau, đủ duyên gặp Chánh pháp và sớm giải thoát!