KHẢI TUỆ QUANG

[PHÁP ĐÀM] BÀI PHÁP 41 – 50

Đăng bởi Khải Tuệ Quang
1 comment 160 views

BÀI 41 – KHÔNG PHẠM GIỚI VÀ GIỮ GIỚI

Hầu hết mọi người tự hào rằng mình không sát sinh, không trộm cắp, không lừa đảo. Nhưng sự thật là gì? Rất nhiều người không phạm giới đơn giản vì họ chưa rơi vào hoàn cảnh thích hợp để làm việc ác, hoặc họ không có đủ cơ hội và khả năng để làm điều đó mà thôi.

Hãy nhìn vào một ví dụ thực tế để thấy rõ sự khác biệt sinh tử này:

Một người bị khóa chặt trong một căn phòng trống, cả ngày không hề trộm cắp, không hề đánh đập ai, không hề uống rượu hay lừa gạt ai. Người đó rõ ràng không hề phạm giới. Nhưng người đó có được gọi là đang giữ giới không? Hoàn toàn không! Trong tâm người đó không hề dấy khởi một tác ý kiêng tránh nào cả. Việc họ không làm ác chỉ vì hoàn cảnh bắt buộc họ phải bất lực, chứ không phải vì sự soi sáng của trí tuệ hay đạo đức. Sự không phạm giới thụ động này hoàn toàn không sinh ra bất kỳ phước báu hay sức mạnh tâm thức nào.

Ngược lại, giữ giới là khi quý vị đứng trước một cơ hội làm ác hoàn hảo. Ví dụ quý vị có thể dễ dàng chiếm đoạt một số tiền cực lớn mà không một ai trên đời có thể phát hiện, hoặc khi đứng trước kẻ thù đang thất thế mà quý vị có thừa khả năng trả thù hay hủy hoại họ. Nhưng ngay chính tại khoảnh khắc đó, sự tỉnh giác trỗi dậy, quý vị chủ động vận dụng tác ý kiêng tránh, kiên quyết dừng lại và từ khước việc làm ác. Đó mới thực sự là giữ giới!

Giữ giới là một hành vi dũng mãnh của tâm thiện. Khi quý vị chủ động kiêng tránh, tâm thức quý vị lập tức tạo ra một lớp bảo vệ thanh tịnh cực kỳ lớn. Chính sự trong sạch này giúp tâm không bị sóng gió của sự hối hận, bất an hay sợ hãi quấy nhiễu.

Nhờ có sự an ổn tuyệt đối do việc chủ động giữ giới mang lại, tâm quý vị mới có thể dễ dàng lắng sâu vào sự tĩnh lặng của thiền định, và từ sự tĩnh lặng đó mới phát sinh tuệ quán để thấy rõ bản chất chân thật của thân tâm.

Đừng tiếp tục tự lừa mị bản thân bằng sự không phạm giới thụ động do hoàn cảnh. Quý vị phải biến từng khoảnh khắc trong đời sống thành sự chủ động giữ giới bằng tác ý tỉnh giác. Đó mới là cái gốc vững chắc của người tu tập Chánh pháp!

BÀI 42 – XÂY DỰNG CHÁNH TRI KIẾN

‎Tín không bao giờ đứng độc lập mà phải đi đôi với Trí tuệ. Tín mà không có Tuệ sẽ biến thành Mê tín, Tuệ mà không có Tín sẽ rơi vào Ngụy biện, Xảo ngôn.

‎Quý vị tin Đức Phật không phải vì Ngài là một vị thần linh ban phước trừng phạt, mà vì Ngài là Bậc Toàn Giác đã tự mình diệt sạch Tham – Sân – Si.

‎Quý vị tin Giáo Pháp không phải vì giáo lý đó huyền bí, mà vì Pháp có đặc tính thực nghiệm ngay trong hiện tại, đến để mà thấy, tự mình giác ngộ.

‎Quý vị tin Chư Tăng vì Chư Tăng là những Bậc đang đi đúng trên con đường Giới – Định – Tuệ để tiến tới giải thoát.

‎🔴 Như Lý Tác Ý

‎Chánh Tri Kiến không tự nhiên rơi xuống đầu quý vị. Nó bắt đầu từ việc nghe/học Chánh pháp, sau đó dùng sự suy xét chân thật, đúng đắn để đối chiếu với thực tại. Quý vị phải tự hỏi và thấy rõ: Hành vi này, tư tưởng này làm tăng trưởng hay làm suy giảm Tham, Sân, Si? Nó dẫn đến trói buộc hay dẫn đến giải thoát? Khi nhận diện trần trụi như vậy, Chánh Tri Kiến mới bắt đầu cắm rễ vào tâm thức.

‎🔴 Tứ Niệm Xứ

‎Đây là con đường quyết định. Lý thuyết dù hay đến đâu cũng chỉ là tri thức trên giấy nếu quý vị không chịu quay về quán chiếu chính mình.

‎Chỉ khi quý vị kiên trì thực hành Tứ Niệm Xứ, trực tiếp quan sát sự sinh diệt của Thân, Thọ, Tâm, Pháp, tự mình thấy rõ Danh và Sắc chỉ là sự lắp ghép của Bốn đại và Vận hành theo Duyên, trực nhận tính chất Vô Thường – Khổ – Vô Ngã ngay trong từng sát-na… lúc đó Tuệ giác mới bừng sáng.

‎Một khi đã tự mình “thấy” và “chứng”, quý vị sẽ không cần ai phải thuyết phục, không cần ai phải đi chứng nhận niềm tin cho quý vị nữa. Lúc đó, niềm tin vào Tam Bảo trở thành một khối đá tảng kiên cố, dù sóng gió thế gian hay hàng ngàn thứ tà kiến bủa giăng cũng tuyệt đối không thể làm lung lay.

‎Quý vị hãy tự soi lại mình: Hằng ngày quý vị đang nuôi dưỡng tâm thức bằng Tứ Niệm Xứ và Giới Luật, hay đang để tâm mình trôi dạt theo cảm xúc phàm phu và các trò diễn xướng thế gian? Đừng làm kẻ xây nhà trên cát!

BÀI 43 – CÁCH BÀY TỎ LÒNG TRI ÂN KHI NGHE GIẢNG PHÁP

Khi đón nhận lời khai minh Chánh pháp, quý vị có thể bày tỏ sự hoan hỷ bằng những lời đáp chuẩn mực và trọn vẹn ý nghĩa sau:

‎🔴 Lời Xướng Tán Thán (Dùng khi đúc kết bài học hoặc kết thúc bài giảng)

‎Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành thay! Lành thay! Lành thay!

‎(Lời cảm thán trọn vẹn từ Thân – Khẩu – Ý để tán thán Chánh pháp diệu kỳ).

‎”Sādhu anumodāmi!” – “Con xin hoan hỷ tùy hỷ pháp công đức của Ngài / Thầy!”

‎🔴 Lời Tiếp Nhận & Tín Thọ Giáo Huấn

‎Bạch Ngài / Thưa Thầy, thật vi diệu thay! Con xin hoan hỷ tín thọ lời dạy.

‎Bạch Ngài / Thưa Thầy, Pháp âm thật minh triết. Con xin y giáo phụng hành.

‎Con xin thành kính khắc ghi pháp âm này làm kim chỉ nam soi đường.

‎🔴 Lời Phát Nguyện Tinh Tấn & Chuyển Hóa

‎Bạch Ngài / Thưa Thầy, con xin tri ân lời giáo hóa giúp khai mở vô minh. Con nguyện sẽ cố gắng tinh tấn, chánh niệm và tỉnh giác hơn nữa trong từng cử chỉ, suy nghĩ.

‎Lời giảng của Ngài / Thầy như ngọn đèn soi trong bóng tối. Con xin trân trọng đón nhận và lấy đó làm đề mục để quán chiếu thân tâm mỗi ngày.

‎Xin tri ân bài giảng chứa đựng nhiều trí tuệ và từ bi. Nguyện cho Chánh pháp mãi đăng minh, nguyện cho tất cả chúng sanh đều được lợi lạc

BÀI 44 – TƯƠNG ƯNG MINH KIẾN

Kinh Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya)
Chương V: Đại Phẩm (Mahāvagga)
Tương Ưng Minh Kiến (Abhisamaya-saṃyutta)

Minh kiến không phải là sự tích lũy kiến thức sách vở, cũng không phải là khả năng suy luận hay triết lý suông của trí óc. “Minh” chính là sự thấy biết trực nhận, rõ ràng và thấu suốt thực tại đúng như nó đang là. Minh kiến chính là sự hiểu biết thấu suốt Tứ Diệu Đế (Sự thật về Khổ, Nguyên nhân của Khổ, Sự diệt Khổ, và Con đường đi đến diệt Khổ) cùng với việc trực nhận ba thuộc tính cốt lõi của muôn pháp: Vô thường, Khổ, và Vô ngã.

‎​Quý vị cần thấy rõ rằng, gốc rễ của mọi nỗi khổ đau và sự lẩn quẩn trong sinh tử chính là Vô minh – sự không thấy, không biết đúng bản chất của Thân và Tâm (Năm yếu tố hợp thành con người). Chính vì Vô minh, con người mới lầm tưởng có một cái “Tôi” cố định, một “Linh hồn” vĩnh cữu, từ đó sinh ra tham ái, dính mắc và oán giận.

‎​Khi Minh kiến xuất hiện, bóng tối Vô minh tự động sụp đổ. Giống như khi ngọn đèn thắp lên trong căn phòng tối ngàn năm, bóng tối lập tức tan biến chứ không cần phải xua đuổi.

‎​​Tôi xin nhấn mạnh với quý vị: Minh kiến không thể tự nhiên rơi xuống, cũng không do sự cầu xin ban phước từ bất kỳ thần linh nào. Minh kiến phát sinh qua một lộ trình thực hành rõ ràng:

‎​Lắng nghe Chánh pháp từ các bậc hiểu biết đúng đắn.

‎​Suy xét đúng đắn (Như lý tác ý) để không rơi vào tà kiến hay mê tín.

‎​Thực hành Chánh niệm ngay trên Thân, Cảm giác, Tâm trí và các Hiện tượng.

‎​Khi quý vị quay vào bên trong, quan sát thực tại ngay trong khoảnh khắc hiện tại với tâm thuần túy ghi nhận, quý vị sẽ trực tiếp thấy từng cảm xúc, từng suy nghĩ, từng hơi thở liên tục Sinh rồi Diệt. Sự thấy biết trực tiếp trên chính Thân – Tâm mình đó chính là sự ra đời của Minh kiến. ​Khi Minh kiến đã tròn đầy, sự ảo tưởng về cái “Tôi” và “Của tôi” hoàn toàn bị bẻ gãy. Tâm quý vị không còn bị lôi kéo hay lay chuyển bởi những biến động thế gian như hơn – thua, được – mất, khen – chê, hay vui – khổ. Đoạn trừ được Vô minh bằng Minh kiến chính là lúc mọi lậu hoặc bị diệt trừ, mở ra sự bình an tuyệt đối và tự do chân thật ngay trong kiếp sống này.

‎​Mong quý vị luôn lấy Chánh niệm và Sự suy xét đúng đắn làm kim chỉ nam, tự mình thắp đuốc lên mà đi, từng ngày nuôi dưỡng Minh kiến để từng bước thoát khỏi mọi trói buộc của khổ đau.

‎Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
‎Sādhu Sādhu Lành thay!

– Khải Tuệ Quang –

BÀI 45 – TẤM GƯƠNG CỦA CÁC BẬC ĐẠI TRÍ

Hãy nhìn tấm gương của các bậc Đại Trí mà học tập sư buông bỏ, đừng so sánh mình với những con người ngoài kia. Vì điều đó chỉ càng tăng trưởng thêm đau khổ mà thôi. Mấy ông tỷ phú thời nay chưa là 1 góc nhỏ với các Tỷ phú đại cư sỹ thời đức Phật đâu thưa quý vị. Tài sản của các vị ấy tính bằng hàng tấn vàng.

Cư sỹ cấp cô độc cho người rãi vàng khắp đường hàng cây số.

Để mua lại khu vườn của Thái tử Jeta, ông đã chở hàng trăm chuyến xe vàng ròng để lát kín toàn bộ 18 mẫu đất.

‎​180 triệu đồng tiền vàng để mua đất, 180 triệu để xây dựng Tinh xá Kỳ Viên, và 180 triệu cho lễ khánh thành kéo dài 9 tháng. Tổng cộng ông đã chi 540 triệu đồng tiền vàng chỉ cho một công trình cúng dường Tam Bảo.

‎Mỗi ngày, gia đình ông chuẩn bị phần ăn cố định cho 2.000 vị Tỷ-kheo tại tư gia, chưa kể hàng ngàn người nghèo khổ được ông chu cấp thức ăn liên tục.

Tiếp theo là Nữ đại cư sĩ Visākhā – Nữ gia chủ sở hữu bộ trang phục bằng giá trị cả một thành phố. Bà xuất thân từ một gia tộc giàu có bậc nhất qua nhiều thế hệ.

‎​Khi về nhà chồng, cha bà là trưởng giả Dhanañjaya đã trao của hồi môn gồm 500 xe vàng ròng, 500 xe bạc, 500 xe vải vóc thêu kim tuyến, 500 xe gia súc và hàng ngàn tỳ nữ.

‎​Bộ trang phục dệt bằng vàng ròng, đính hàng ngàn viên kim cương, hồng ngọc, ngọc bích và ngọc trai. Giá trị của bộ trang phục này là 90 triệu đồng tiền vàng, cộng thêm 100.000 tiền vàng cho tiền công thợ thêu.

‎​Khi bán bộ áo này để lấy tiền cúng dường, không ai trong thành đủ tiền mua lại. Bà đã tự bỏ ra 90 triệu tiền vàng mua lại chính áo của mình, cộng thêm 90 triệu tiền vàng nữa để xây dựng Tinh xá Đông Sạn (Lộc Mẫu Tinh Xá) gồm 1.000 phòng cho Tăng đoàn.

Đây là 2 Đại cư sỹ có công thù thắng lớn nhất về hộ pháp tăng đoàn nhé quý vị. Đáng tiếc các tịnh xá vĩ đại này đã bị chiến tranh tàn phá. 2 tịnh xa này là công trình vô cùng lớn và hoành tráng bậc nhất lịch sử thời đó. Số vàng này nếu quy đổi ra tiền hiện tại, thì top tỷ phú thế giới hiện nay chưa là gì cả. Nước Ấn thời Phật tại thế rất giàu có và hưng thịnh, không có như bây giờ.

BÀI 46 – NIẾT BÀN

Này các Tỳ-khưu, có xứ ấy, tại đây không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió; không có Hư không vô biên xứ, không có Thức vô biên xứ, không có Vô sở hữu xứ, không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời này, không có đời sau, không có cả hai mặt trăng và mặt trời. Do vậy, này các Tỳ-khưu, Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có đứng lại, không có diệt mất, không có sinh khởi. Nó không có chỗ đứng, không có chuyển dịch, không có chỗ tựa. Đây là sự kết thúc của khổ đau.

‎​Này các Tỳ-khưu, có cái không sinh, không hiện hữu, không bị làm ra, không hữu vi. Này các Tỳ-khưu, nếu không có cái không sinh, không hiện hữu, không bị làm ra, không hữu vi ấy, thì ở đây không thể biết được sự xuất ly khỏi cái bị sinh, bị hiện hữu, bị làm ra, bị hữu vi. Nhưng vì có cái không sinh, không hiện hữu, không bị làm ra, không hữu vi, nên mới biết được sự xuất ly khỏi cái bị sinh, bị hiện hữu, bị làm ra, bị hữu vi.

Này các Tỳ-khưu, thế nào là Vô vi? Này các Tỳ-khưu, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỳ-khưu, đây gọi là Vô vi. ​Và này các Tỳ-khưu, thế nào là Niết-bàn? Này các Tỳ-khưu, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỳ-khưu, đây gọi là Niết-bàn.

‎​Và này các Tỳ-khưu, thế nào là cái không bị sinh, không bị già, không bị bệnh, không bị chết, không bị sầu, không bị ô nhiễm? Đó là Niết-bàn. Ta tự mình bị sinh, bị già, bị bệnh, bị chết, bị sầu, bị ô nhiễm; sau khi thấy rõ sự nguy hại của những pháp ấy, tìm kiếm cái không sinh, không già, không bệnh, không chết, không sầu, không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, và Ta đã chứng đạt Niết-bàn.

‎- Đức Phật Gotama –

BÀI 47 – ĐỨC PHẬT VỀ THĂM VÀ THUYẾT PHÁP CHO VUA CHA TỊNH PHẠN

Đức Phật Gotama về để thăm và thuyết pháp cho vua cha Tịnh Phạn trên giường bệnh trước khi ông băng hà.

Trong lần đầu tiên Đức Phật trở về thành sau khi thành đạo, khi nhìn thấy Đức Phật ôm bát đi xin ăn trên con phố của hoàng tộc, vua Tịnh Phạn đã chạy đến trách móc. Đức Phật đã dừng lại và đọc bài kệ Pháp Cú về sự nối truyền truyền thống của các chư Phật. Nghe xong bài kệ, vua Tịnh Phạn lập tức chứng quả Tu-đà-hoàn.

‎​Ngay sau đó, Đức Phật đọc tiếp bài kệ Pháp Cú thứ hai về việc sống theo Chánh pháp. Vua Tịnh Phạn liền chứng tiếp quả Tư-đà-hàm và dẫn Đức Phật cùng chư Tăng vào hoàng cung.

‎Về sau, khi Đức Phật thuyết giảng bài kinh Đại Pháp Hộ Tự để nhắc lại tiền kiếp của vua cha, vua Tịnh Phạn đã quán chiếu sâu sắc và chứng đạt quả vị A-na-hàm. Ở tầng bậc này, ông đã diệt trừ hoàn toàn năm hạ phần kết sử, bao gồm cả tâm tham ái cõi dục và tâm phẫn nộ.

‎​Khi biết tin vua cha lâm bệnh nặng và sắp qua đời, Đức Phật cùng chư đại đệ tử đã trở về. Vua Tịnh Phạn lúc này đã là một vị Thánh A-na-hàm. Đức Phật ngồi bên đầu giường, khai thị về sự biến dịch của năm uẩn và bản chất vô thường của mọi hiện tượng hữu vi. Nhờ nền tảng tâm thức đã vô cùng thanh tịnh từ trước, vua Tịnh Phạn tự mình quán chiếu lời Đức Phật dạy, quét sạch năm thượng phần kết sử còn lại, bao gồm cả mầm mống vô minh cuối cùng. Ông chính thức chứng đạt quả vị A-ra-hán ngay trên giường bệnh.

‎​Sau khi chứng quả A-ra-hán, vua Tịnh Phạn sống trong sự an lạc tuyệt đối của quả vị này dưới lọng trắng hoàng gia trong bảy ngày rồi chính thức trút hơi thở cuối cùng, nhập Niết-bàn hoàn toàn, chấm dứt vĩnh viễn vòng sinh tử luân hồi.

BÀI 48 – SỰ CHẾT

Sự chết là sự thật hiển nhiên nhất đối với tất cả chúng sinh, nhưng lại là điều mà con người thường cố tình quên đi hoặc né tránh nhiều nhất. Trong Chánh Pháp, quán chiếu về sự chết không phải để tạo ra tâm lý sợ hãi, bi quan hay buông xuôi, mà là một pháp môn tối thượng giúp thức tỉnh sự tinh tấn, quét sạch tham ái và gỡ bỏ mọi sự bám chấp. ​Nhiều người coi sự chết là một bi kịch bất ngờ, một sự chấm dứt đáng sợ. Nhưng dưới ánh sáng Tuệ quán, chết chỉ đơn thuần là sự tan rã tự nhiên của thân Ngũ Uẩn. Khối đất, nước, lửa, gió này sau một thời gian vay mượn từ thiên nhiên thì đến lúc phải hoàn trả lại cho thiên nhiên. Sự sống và sự chết thực chất là hai mặt của cùng một đồng tiền, ngay trong từng sát-na, từng nhịp thở, các tế bào trên thân và các trạng thái trong tâm đã liên tục sinh ra rồi diệt đi mà chúng ta không hề hay biết.

​Mạng sống của con người vô cùng mong manh và ngắn ngủi, như giọt sương đầu cọng cỏ hay như bọt nước trên mặt sông. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào: khi còn trẻ hay đã già, khi khỏe mạnh hay ốm đau, lúc đang ngủ hay đang làm việc. Sự sống thực chất chỉ kéo dài trong đúng một hơi thở: hít vào mà không thở ra, cuộc đời lập tức khép lại. ​Nhiều người dành cả đời để gom góp tài sản, tranh giành danh vọng, hơn thua từng lời nói, để rồi đến thời điểm nhắm mắt xung quanh không mang theo được bất kỳ điều gì. Nhà cửa, tiền bạc, người thân và ngay cả cái xác thân mà ta chăm chút hằng ngày cũng phải bỏ lại. Thứ duy nhất đồng hành cùng một chúng sinh khi bước qua cửa tử chính là Nghiệp. Những hành động, lời nói và suy nghĩ thiện hay bất thiện do ta tạo ra trong đời sẽ là hành trang duy nhất theo ta như bóng với hình.

​Người thực hành Niệm Sự Chết một cách đúng đắn sẽ không đợi đến khi nằm trên giường bệnh mới bắt đầu tu tập. Mỗi buổi sáng khi thức dậy, hãy tự nhắc tâm mình: Ngày hôm nay có thể là ngày cuối cùng ta còn có mặt trên đời. Khi tâm đã thấy rõ sự thật này, sự lơ là hay dễ duôi sẽ tự động biến mất. Những hờn giận, tị hiềm, hơn thua với thế gian bỗng trở nên vô nghĩa. Tâm sẽ dễ dàng tha thứ, dễ dàng buông xả, và chỉ muốn dành trọn thời gian còn lại để sống trong chánh niệm, làm điều thiện lành và vơi bớt sự dính mắc.

‎​Sự chết không bao giờ là một kẻ thù. Kẻ thù thật sự chính là sự vô minh và lối sống lơ đễnh, coi thường thời gian. Khi sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc hiện tại với tâm thanh tịnh và chánh niệm, thì đến khi cái chết gõ cửa, chúng ta có thể mỉm cười đón nhận nó như một người du khách thanh thản trút bỏ chiếc áo đã cũ để tiếp tục bước đi trên hành trình giải thoát.

BÀI 49 – Kinh Tư Lường (Parivīmaṃsana Sutta), SN 12.51

LINK: Kinh Tư Lường — Parivīmaṃsana Sutta

Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, có dự tính làm các phước hành, hay có dự tính làm các phi phước hành, hay có dự tính làm các bất động hành?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Hay nếu các hành không có mặt một cách trọn vẹn, do các hành đoạn diệt, thời thức có hiện hành không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Hay nếu thức không có mặt một cách trọn vẹn, do thức đoạn diệt, thời danh sắc có hiện hành không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Hay nếu danh sắc không có mặt một cách trọn vẹn, do danh sắc đoạn diệt, thời sáu xứ có hiện hành không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Hay nếu sáu xứ không có mặt một cách trọn vẹn, do sáu xứ đoạn diệt, thời xúc có hiện hành không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Hay nếu xúc không có mặt một cách trọn vẹn, do xúc đoạn diệt, thời thọ có hiện hành không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Hay nếu thọ không có mặt một cách trọn vẹn, do thọ đoạn diệt, thời ái có hiện hành không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Hay nếu ái không có mặt một cách trọn vẹn, do ái đoạn diệt, thời thủ có hiện hành không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Hay nếu thủ không có mặt một cách trọn vẹn, do thủ đoạn diệt, thời hữu có hiện hành không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Hay nếu hữu không có mặt một cách trọn vẹn, do hữu đoạn diệt, thời sanh có hiện hành không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Hay nếu sanh không có mặt một cách trọn vẹn, do sanh đoạn diệt, thời già chết có hiện hành không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

—Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Phải là như vậy, này các Tỷ-kheo! Không thể khác vậy. Hãy tin ở Ta, này các Tỷ-kheo! Hãy quyết định, chớ có nghi ngờ, chớ có phân vân! Ðây là khổ được đoạn tận.

BÀI 50 – Đức Phật Ngự Cõi Trời Ba Mươi Ba Thuyết Vi Diệu Pháp Báo Ơn Thánh Mẫu

Theo tư liệu Chú giải, sau khi thi triển thần thông tại cây xoài Càn-đà để nhiếp phục các phái ngoại đạo, Đức Phật ngự lên cõi trời Ba Mươi Ba để an cư mùa hạ thứ bảy.

​Thánh mẫu Ma-ya sau khi xả báo thân ở cõi người đã tái sinh làm vị thiên tử tên San-tu-si-ta tại cõi trời Đâu Suất. Hay tin Đức Phật ngự tại cõi Ba Mươi Ba, vị thiên tử này đã hạ giáng xuống đây để lắng nghe Giáo Pháp. Suốt ba tháng an cư, Đức Phật đã thuyết giảng Tạng Diệu Pháp cho vị thiên tử cùng đông đảo chư thiên. Việc trao truyền giáo lý này là sự đền đáp ơn sinh thành cao quý nhất.

​Trong thời gian này, hằng ngày Đức Phật hóa hiện một hóa thân Phật tiếp tục thuyết Pháp trên cõi trời, còn kim thân của Ngài hạ giáng xuống cõi người thọ thực và truyền lại tóm tắt nội dung cho Trưởng lão Xá-lợi-phất. Nhờ đó, Trưởng lão đã giảng giải lại cho các vị đệ tử, giúp Tạng Diệu Pháp được lưu truyền ở nhân gian.

​Đến ngày rằm tháng mười, khi kết thúc hạ an cư bằng lễ Tự Tứ, Đức Phật trở về cõi người tại cổng thành Sang-ka-sa. Vua trời Đế Thích hóa hiện ba dãy cầu thang: cầu thang ngọc bích ở giữa dành cho Đức Phật, cầu thang vàng bên phải dành cho chư thiên và cầu thang bạc bên trái dành cho Phạm Thiên. Tại đây, Đức Phật thi triển phép lạ mở thông các cõi, giúp chư thiên và nhân loại đều nhìn thấy nhau và phát tâm trong sạch với Giáo Pháp. Khi đặt chân xuống cõi người, Ngài đã tuyên đọc câu kệ :

Người trí chú tâm định,
Thích ly dục, an tịnh,
Chư thiên đều ái kính,
Bậc Chánh Giác, Chánh Niệm.


You may also like

1 comment

Khải Tuệ Minh 3 August, 2026 - 11:45 am

Nguyện đem phước lành này làm duyên, đoạn trừ các ô nhiễm nơi tâm, thành tựu trí tuệ sắc bén và sự tinh tấn, tăng trưởng Giới–Định–Tuệ, hướng đến Niết-bàn!

Nguyện cho con sinh ra ở đâu cũng luôn được gặp Chánh pháp, gần gũi thiện tri thức và bậc thầy chân chính, xa lìa bạn ác và tà kiến!

Xin hồi hướng công đức này đến tất cả chúng sinh được an vui, giảm bớt khổ đau, đủ duyên gặp Chánh pháp và sớm giải thoát!

Trả lời

Comment