KHẢI TUỆ QUANG

[GÓC HỎI ĐÁP & GIẢI NGHI] CÂU HỎI 151-160

Đăng bởi Khải Tuệ Quang
0 comments 30 views

Phần trước: [GÓC HỎI ĐÁP & GIẢI NGHI] CÂU HỎI 141-150

CÂU HỎI 151: HOÀI NGHI BẢN DỊCH NIKĀYA VÀ TINH THẦN “ĐẾN ĐỂ MÀ THẤY”

HỎI:

Kính bạch thầy!

Có những người hoài nghi Tam Tạng Kinh Điển Nikāya dịch sang tiếng Việt có thể thêm vào tư tưởng cá nhân. Nếu con trả lời tinh thần giáo pháp của Đức Thế Tôn là “đến để mà thấy” (ehipassiko), như lời dạy của Đức Thế Tôn dành cho người dân Kalama: “đừng tin vì nghe truyền khẩu, đừng tin vì đó là truyền thống, đừng tin vì nghe đồn đại, đừng tin vì được ghi trong kinh điển, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì suy diễn, đừng tin vì đã tư duy trên mọi lý lẽ, đừng tin vì dựa theo ý kiến đã được cân nhắc, đừng tin vì vị ấy có vẻ có uy quyền, đừng tin vì nghĩ rằng vị ấy là thầy của mình.”

“Khi nào quý vị tự mình biết rõ: ‘Các pháp này là bất thiện; các pháp này là đáng chê; các pháp này bị người trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, sẽ đưa đến bất hạnh khổ đau’, quý vị hãy từ bỏ chúng. … Khi nào quý vị tự mình biết rõ: ‘Các pháp này là thiện; các pháp này là đáng khen; các pháp này được người trí ca ngợi; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, sẽ đưa đến lợi lạc hạnh phúc’, quý vị hãy đạt đến và an trú”.

Vì vậy hãy đọc kinh và tự mình thực hành kiểm chứng.

Thầy chỉ dạy cho con, tư tưởng của con như vậy với những người hoài nghi đã đúng với tinh thần giáo pháp của Đức Thế Tôn chưa ạ?

ĐÁP:

Kiểm chứng Chánh Pháp không phải là dựa vào suy đoán hay cảm tính cá nhân, mà là thực hành Tứ Niệm Xứ để trực tiếp thấy rõ sự vận hành của Tham, Sân, Si và bản chất Vô Thường, Khổ, Vô Ngã ngay trên thân tâm mình. Trong kinh Kalama, Đức Phật chỉ ra tiêu chuẩn kiểm chứng rất rõ ràng: một giáo lý chân thật phải dẫn đến sự dập tắt phiền não và được những người có trí tuệ công nhận.

Văn bản hay các bản dịch Nikaya đóng vai trò như một bản đồ chỉ đường do Tăng đoàn gìn giữ. Những kẻ hoài nghi bản dịch thường là những người chỉ thích tranh luận chữ nghĩa thế gian mà chưa từng thực sự đặt chân vào con đường thiền tuệ. Nếu một bản dịch giúp người đọc quay về giữ giới, sống chánh niệm tỉnh giác và bớt đi phiền não ngay trong hiện tại, thì bản dịch đó đã truyền tải trọn vẹn tinh thần Chánh Pháp.

Quý vị nên chỉ thẳng cho họ hiểu: Kinh điển chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng. Đừng đứng một chỗ ôm lấy ngón tay rồi tranh cãi đúng sai, mà hãy tự mình bước đi theo hướng ngón tay chỉ để trực tiếp nhìn thấy mặt trăng. Nếu không chịu nỗ lực thực hành để đối diện với thực tại thân tâm, mọi sự hoài nghi hay tranh luận về văn bản kinh điển đều chỉ là trò chơi trí năng vô bổ của phàm phu.

CÂU HỎI 152: TỰ MÌNH THỰC HÀNH, TỰ MÌNH CHUYỂN HÓA

HỎI:

Dạ con thành kính tri ân thầy khai ngộ ạ!

Giáo pháp Đức Thế Tôn khai ngộ đi ngược dòng số đông, ngay cả người thân quen cũng chưa chắc nghe mình, con nghĩ chỉ có tự mình thực hành, tự mình thay đổi, người có trí nhìn vào sẽ thấy ạ!

ĐÁP:

Chiêm nghiệm trong vô lượng kiếp luân hồi, nước mắt ta khóc cho những phân ly người thân qua muôn đời còn nhiều hơn nước trong bốn đại dương. Việc sinh ra trong kiếp này, mang trên mình thâm ân dưỡng dục của cha mẹ hiện tiền là mối duyên lành lớn lao để ta hoàn thành trách nhiệm nhân quả. Ta tận hiếu không phải bằng thứ ái buộc dính mắc, mà bằng sự thấu suốt Duyên Khởi: vừa làm tròn bổn phận phụng dưỡng, vừa khéo léo hướng cha mẹ gieo trồng Chánh tin, Giới, Thí và Trí tuệ. Còn vợ – chồng, con, anh em, hay bằng hữu… thảy đều do tích tập nghiệp lực vay trả mà hội tụ. Đủ duyên thì gá hợp, hết duyên lại tan biến, vốn không có ai thuộc về ai, cũng chẳng có gì là vĩnh hằng. Hiểu thấu sự thật ấy, ta mới rũ bỏ được gánh nặng thương lo, không chìm trong sầu ưu bi lụy, trọn vẹn sống với tâm Xả bình thản giữa nhân gian.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.

Sādhu! Sādhu! Sādhu!

CÂU HỎI 153: CHẾ ĐỊNH ĐÚNG SAI VÀ CHÁNH KIẾN TRONG THỰC HÀNH

HỎI:

Kính bạch thầy, con đọc bài “quan sát pháp chân đế mới phát sinh trí tuệ giải thoát” và bài “bản đồ giải phẫu tâm thức từ kinh sáu sáu”. Con có cảm giác mình nhìn nhận sai về thế giới, thay vì nhìn sự vật, hiện tượng như nó là thì con lại nhìn mọi thứ như con đang là (bị chi phối bởi cảm tính, kinh nghiệm cá nhân). Con có cảm giác thế giới này là ảo nhưng rõ ràng mọi hiện tượng xảy ra là thật, nhiều lúc con nghi ngờ chính bản thân mình những gì con tin có có đúng không?

Trong bài quan sát pháp chân đế thầy viết:

“Khái niệm Chế định là toàn bộ những tên gọi, hình dáng, ý niệm hay các cấu trúc khối gộp mà trí óc con người đặt ra để mô tả thế giới. Đó là những khái niệm quen thuộc như con người, cái xe, ngôi nhà, thân thể, hoặc các đánh giá có tính phân biệt như đúng, sai, đẹp, xấu…”

Vậy những đánh giá “đúng”, “sai” là khái niệm chế định thì con học chánh pháp và nghĩ mình là đúng và người thực hành không đúng chánh pháp con bảo họ là sai thì thực chất đây chỉ là tiến trình danh sắc đang vận hành chứ không có người nào đúng hay sai cố định. Nếu sau này người “sai pháp” đó thực hành “đúng pháp” thì lại thành “đúng” phải không ạ?

Và để phân định được một vấn đề nào đó là “đúng”, “sai”, “tốt”, “xấu” thì phải có “chánh kiến” phải không ạ?

Thầy khai ngộ giúp con ạ!

ĐÁP:

Cảm giác hoài nghi và sự nhận diện về cách mình nhìn thế giới qua lăng kính cảm tính cá nhân chính là bước khởi đầu rất tốt của trí tuệ. Quý vị bắt đầu thấy ra được sự thật rằng bấy lâu nay con người không sống với thực tại, mà chỉ sống với những diễn dịch và khái niệm do chính tâm trí mình vẽ ra.

Thế giới này không phải là một ảo ảnh trống rỗng theo kiểu không có gì tồn tại. Các hiện tượng thân và tâm, sự xúc chạm của giác quan, các cảm thọ, các trạng thái vui buồn hay sự sinh diệt của vật chất đều là những thực tại chân đế đang vận hành rất thật ngay trong từng khoảnh khắc. Cái ảo ở đây chính là sự gán ghép của tâm trí, khi nó tổng hợp những dòng chảy sinh diệt liên tục đó thành một cái tôi cố định, một con người cụ thể, một chiếc xe hay một ngôi nhà. Đó chính là sự lầm lẫn giữa thực tại chân đế và khái niệm chế định.

Về thắc mắc liên quan đến đúng và sai, quý vị cần hiểu thật rõ hai mặt của vấn đề để không rơi vào tà kiến hư vô.

Ở góc độ chân đế, hoàn toàn không có một người nào cố định gọi là người đúng hay người sai. Tất cả chỉ là một tiến trình danh sắc đang nối tiếp nhau vận hành theo quy luật duyên sinh. Khi tâm bị chi phối bởi si mê, tham ái và sân hận, dòng chảy danh sắc đó tạo ra các hành vi bất thiện. Khi dòng chảy đó được soi sáng bởi sự tỉnh giác và trí tuệ, nó trở thành dòng chảy thiện lành. Do đó, một người đang thực hành sai không phải là kẻ sai vĩnh viễn. Khi họ buông bỏ tà kiến để quay về thực hành đúng Chánh Pháp, tiến trình tâm của họ lập tức chuyển biến từ bất thiện sang thiện.

Tuy nhiên, đừng vì thấy đúng sai là khái niệm chế định mà cho rằng mọi thứ đều cào bằng như nhau. Dù ngôn từ đúng hay sai là do con người đặt ra để giao tiếp, nhưng quy luật nhân quả và sự phân định giữa thiện và bất thiện là thực tại chân đế tuyệt đối. Hành vi xuất phát từ tâm bất thiện chắc chắn dẫn đến phiền não và khổ đau. Hành vi xuất phát từ tâm thiện và trí tuệ chắc chắn dẫn đến sự an lạc và giải thoát.

Để phân định được điều này mà không bị rơi vào sự ngã mạn hay dính mắc, quý vị bắt buộc phải có Chánh Kiến. Chánh Kiến ở cấp độ thực hành sẽ giúp quý vị nhìn thấy rõ ràng: điều gì đang diễn ra, bản chất của nó là thiện hay bất thiện, nó đưa đến sự buộc ràng hay cởi trói. Khi có Chánh Kiến, quý vị chỉ ra cái sai của tà pháp là để bảo vệ Chánh Pháp và hỗ trợ người khác, chứ không phải để nâng cao cái tôi hay dính mắc vào sự phân biệt. Quý vị nhìn thấy sự sai lầm như thấy một căn bệnh, chứ không căm ghét hay định hình người bệnh, vì biết rõ họ cũng chỉ là nạn nhân đang bị vận hành bởi vô minh.

Hãy tiếp tục dùng sự chánh niệm để quan sát trực tiếp sự vận hành của thân tâm ngay trong hiện tại. Khi không còn bị các khái niệm dính mắc làm mờ mắt, Chánh Kiến sẽ tự nhiên hiện khởi và soi sáng mọi hành vi của quý vị.

CÂU HỎI 154: CẢM NHẬN TÂM HÀNH TRONG QUÁN THỌ HẰNG NGÀY

HỎI:

Dạ, kính Bạch Thầy, con đọc trong chánh niệm và thiền quán trong đời sống hàng ngày, ở phần quán thọ: bước 7 – cảm nhận tâm hành – các cảm thọ, tưởng tri sinh diệt con chưa hiểu. Dạ, con Kính Thầy mở lòng Bi mẫn giảng dạy rõ hơn cho con hiểu ạ. Con thành kính tri ân Thầy.

ĐÁP:

Nhiều người hay nhầm Tâm Hành là những suy nghĩ miên man hay tư duy trong đầu. Nhưng trong giai đoạn quan sát cảm thọ, Tâm Hành chính là hai yếu tố: Cảm Thọ (các cảm giác dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính) và Tưởng Tri (sự ghi nhận, nhận diện, dán nhãn đối tượng như đẹp, xấu, quen, lạ, đúng, sai). Sở dĩ hai điều này được gọi là Tâm Hành vì chúng là những thành tố trực tiếp tác động, nhào nặn và làm dấy động trạng thái của tâm thức.

Chẳng hạn khi một cảm giác đau nhức xuất hiện (Cảm Thọ) kết hợp với sự nhận diện “cái đau này thật tệ” (Tưởng Tri), lập tức hai yếu tố này sẽ nhào nặn nên một trạng thái tâm bực bội, co thắt. Ngược lại, một cảm giác mát mẻ dễ chịu cùng sự nhận diện “thật dễ chịu” sẽ làm tâm sinh ra sự thích thú, bám chấp.

Cảm nhận sự sinh diệt của Tâm Hành nghĩa là quý vị không nhảy vào can thiệp hay phân tích, mà dùng sự tỉnh giác thuần túy để thấy rõ ba điều:

Thấy sự tác động: Nhìn rõ mỗi khi một cảm giác hay một sự dán nhãn khởi lên, nó đang làm cho tâm thức bị lay động hay ảnh hưởng như thế nào.

Thấy sự sinh khởi do duyên: Cảm giác đau không tự dưng có, nó sinh lên khi giác quan tiếp xúc với đối tượng. Sự dán nhãn cũng sinh lên từ thói quen và kinh nghiệm cũ.

Thấy sự tan đi: Nhìn ngắm cảm giác và sự dán nhãn đó tự diệt đi. Cảm giác đau tụ lại rồi tan, sự khó chịu bùng lên rồi lặn. Chúng hoàn toàn là những hiện tượng tự nhiên, biến đổi liên tục, không phải là một khối cố định và càng không phải là cái tôi.

Trong sinh hoạt hằng ngày, quý vị không cần phải ngồi im một chỗ mới thực hành được. Mỗi khi mắt thấy cảnh, tai nghe tiếng, hay thân có cảm giác:

Nhận biết ngay lập tức: Chỉ cần hay biết đang có một cảm giác (vui, buồn, đau, dễ chịu) và một sự dán nhãn (thích, ghét, đúng, sai) vừa mới khởi lên.

Không làm gì cả: Đừng cố xua đuổi cái đau, đừng kéo dài cái vui, cũng đừng tự trách sao tâm mình còn phân biệt. Hãy lùi lại một bước, đóng vai trò của một người quan sát khách quan.

Thấy chúng tự sinh tự diệt: Nhìn ngắm cảm giác và nhận thức đó như dòng nước chảy qua cầu. Khi không bị cái tôi nhảy vào sở hữu hay làm trầm trọng hóa vấn đề, quý vị sẽ thấy cảm giác và nhận thức đó tự sinh lên rồi tự biến mất.

Khi quý vị thấy rõ Cảm Thọ và Tưởng Tri liên tục sinh rồi diệt mà không có bất kỳ cái tôi nào nằm trong đó, tâm sẽ tự động buông rời sự bám chấp. Đây chính là tiền đề tự nhiên để tâm bước sang trạng thái an tịnh hoàn toàn, rỗng rang và giải thoát ngay trong từng khoảnh khắc sống.

CÂU HỎI 155: QUÁN KHÁC VỚI SUY NGHĨ, TƯ DUY NHƯ THẾ NÀO?

HỎI:

Bạch Thầy! Con rất hoan hỷ tín thọ lời giảng của thầy. Con hay nghe nói về quán cái này, thấy cái kia. Nhưng con vẫn hay nhầm với việc tư duy, suy luận, suy nghĩ. Ví dụ như bảo Quán về thân, quán vô thường, con lại hay suy nghĩ, tưởng tượng ra những thứ liên quan. Chỉ mới dừng lại ở dạng kiến thức sách vở, nhớ, biết là như thế chứ chưa phải là thấy rõ thực sự. Thầy có biện pháp nào giúp cho những hạng thấp như con không ạ. Xin tri ân lời dạy của thầy.

ĐÁP:

Nhận ra bản thân đang bị mắc kẹt trong suy tư chính là bước tỉnh giác đầu tiên. Trong Chánh Pháp, tiến trình tu tập luôn đi từng bước tiệm tiến từ thô đến vi tế, nên quý vị không cần phải vội vàng hay tự trách mình.

Những gì quý vị đang làm như ngồi hình dung thân này vô thường, tưởng tượng về cái chết hay nhớ lại lời kinh sách mới chỉ là tầng suy ngẫm bằng trí óc. Đó là những khái niệm được vẽ ra bởi ngôn từ và suy tưởng. Muốn chuyển sang sự thấy biết thực chứng, quý vị cần tạm thời cất chiếc bản đồ lý thuyết sang một bên. Khi bước vào thời khóa hay thực hành trong ngày, hãy dặn lòng rằng đây không phải lúc để học kinh hay phân tích, mà chỉ là lúc để cảm nhận.

Thay vì suy nghĩ về thân, quý vị hãy quay về cảm nhận trực tiếp thân thể mình. Hãy chú ý đến những điểm xúc chạm rất rõ ràng như cảm giác cơ thể đang đè lên mặt ghế, sự căng chùng của cơ bắp khi cử động, hay luồng hơi thở ra vào ở vùng mũi. Quý vị chỉ cần ghi nhận cảm giác vật lý đó một cách đơn thuần, tuyệt đối không dùng lời thì thầm trong đầu để miêu tả hay dán nhãn cho nó.

Trong lúc quan sát thân, nếu trí óc nhảy vào phân tích hay nhớ lại kinh sách, quý vị đừng bực bội và cũng đừng gượng ép đè nén. Hãy coi dòng suy nghĩ đó cũng giống như một âm thanh thoảng qua ngoài đường. Quý vị chỉ cần lặng lẽ nhận biết tâm đang suy nghĩ. Ngay khoảnh khắc sự tỉnh giác nhận ra suy nghĩ, dòng suy tư đó sẽ tự động dừng lại. Lúc này, quý vị nhẹ nhàng đưa sự chú ý trở về lại với hơi thở hoặc điểm đụng chạm trên thân.

Khi sự chánh niệm trên thân và cảm thọ được duy trì liên tục, quý vị không cần cố dùng trí óc để suy tư về vô thường hay vô ngã nữa. Tâm sẽ tự động trực nhận các cảm giác nóng lạnh mỏi đau liên tục thay đổi, thấy rõ sự biến đổi đó tạo ra sự bất an, và nhận ra mọi cảm giác tự đến rồi tự đi mà không theo sự điều khiển của cái tôi. Sự thấy biết này hoàn toàn vắng bóng ngôn từ, đó chính là sự bừng sáng tự nhiên của Trí Tuệ Thực Chứng. Quý vị cứ kiên nhẫn đi từng bước nhỏ trên thân xác hiện tại, con đường giải thoát sẽ tự động hiển lộ ngay dưới chân mình.

CÂU HỎI 156: SAI LẦM VI TẾ KHI QUÁN THỌ VÀ QUÁN TÂM TRONG THIỀN TẬP

HỎI:

Thưa Thầy. Trong thời Thiền sáng nay, sau khi đã an trú vào hơi thở an tịnh, con chuyển qua ‘quét’ cảm thọ từ đầu xuống, ghi nhận cảm giác đau nhẹ ở lưng, con lờ đi, tiếp tục cảm giác nặng ở chân nhưng vẫn chịu được và trở về hơi thở. Con chuyển quét tâm, con nhẩm 5 Triền cái cũng không thấy có gì, trừ ý muốn tinh tấn trong hành thiền. Con đã trải qua như vậy thì mặt trời lên, chiếu thẳng vào mặt. Con biết rõ bị chói, nhưng vẫn tiếp tục quán sát tâm, nhớ clip Thầy gửi về các vị sư hành thiền trong mưa, con biết mình muốn hành thiền trong nắng. Nhưng chỉ vài phút không chịu được, con phải xả thiền. Thưa Thầy, Con xin Thầy chỉ dạy quá trình hành thiền của con có gì sai sót không và tiếp tục như thế nào. Con kính tri ân Thầy.

ĐÁP:

Điểm sơ suất đầu tiên nằm ở việc quý vị lờ đi cảm giác đau ở lưng. Trong Quán Thọ, chánh niệm tuyệt đối không phải là ngó lơ hay né tránh cảm giác khó chịu. Hành vi lờ đi thực chất là một dạng đè nén ngầm của tâm phớt lờ. Cách thực hành chuẩn là quý vị chỉ cần ghi nhận trọn vẹn cảm giác đau nhẹ hay nặng nề đó như một hiện tượng vật lý thuần túy đang diễn ra trên thân, thấy nó khởi lên và biến đổi mà không thêm vào thái độ mong cầu nó biến mất.

Điểm thứ hai là việc quý vị nhẩm năm Triền Cái trong đầu. Việc nhẩm tên thuộc về trí nhớ và tư duy ngôn từ, hoàn toàn không phải là sự chánh niệm trực tiếp trên Danh Sắc. Quán tâm không phải là dùng trí óc rà soát theo danh mục bài học. Quý vị chỉ cần hay biết thực tại ngay khoảnh khắc đó: tâm có phiền não thì biết có phiền não, tâm thanh tịnh thì biết thanh tịnh. Việc nhẩm tên vô tình kéo tâm rời xa thực tại để rơi vào sự diễn dịch của trí óc.

Việc quý vị nhớ lại hình ảnh chư Tăng thiền trong mưa rồi sinh ra ý muốn thiền trong nắng thực chất là một cái bẫy vi tế của tâm Tham và Bản Ngã. Lúc đó, tâm đã rời bỏ thực tại để chạy theo một hình tượng lý tưởng, một mong muốn chứng tỏ sự tinh tấn của cái tôi. Ý muốn thiền trong nắng lúc ấy không phải là Chánh Tinh Tấn, mà là sự dấy động của tâm hành muốn tạo ra một thành tích tu tập.

Khi nắng chiếu vào mặt gây chói và nóng, đối tượng chánh niệm thực sự lúc đó chính là cảm giác chói ở mắt, cảm giác nóng trên da, và sự khó chịu đang khởi lên trong tâm. Quý vị chỉ cần lặng lẽ quan sát sự khó chịu đó tự sinh lên rồi tự biến đổi. Nếu sức chánh niệm chưa đủ mạnh để nâng đỡ cảm giác nóng rát, việc quý vị xả thiền hoặc nhẹ nhàng di chuyển vào chỗ mát là điều hoàn toàn bình thường. Điều cốt yếu là trong suốt quá trình di chuyển đó, quý vị biết rõ tâm mình đang vận hành thế nào, không bị cái tôi kích động làm một hành vi gượng ép.

Để tiếp tục thực hành tốt hơn, quý vị hãy buông bỏ mọi ý niệm muốn trở thành một người hành thiền giỏi giang hay cố chứng tỏ sự kiên cường. Hãy trả tâm về sự hay biết đơn thuần ngay trên Thân và Thọ trong hiện tại. Khi không còn sự can thiệp của ý chí hay sự so sánh của trí óc, thời thiền của quý vị sẽ trở nên vô cùng nhẹ nhàng, tự nhiên và đúng tinh thần giải thoát của Chánh Pháp.

CÂU HỎI 157: KINH A-HÀM CÓ PHẢI LÀ KINH PHÁT TRIỂN KHÔNG?

HỎI:

Thưa thầy, Kinh A-hàm có phải cũng gần giống kinh Nikāya không, nó có phải của Phát Triển không?

ĐÁP:

Kinh A-hàm (Āgama) do các bộ phái Phật giáo sơ kỳ khác như Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda), Pháp Tạng Bộ (Dharmaguptaka), Đại Chúng Bộ (Mahāsāṃghika)… truyền giữ bằng tiếng Phạn (Sanskrit) hoặc các ngôn ngữ Ấn Độ cổ khác, sau đó được dịch sang tiếng Hán.

Kinh A-hàm hiện nay lưu hành chủ yếu trong Đại Tạng Kinh Hán ngữ của Phật giáo Bắc tông. Do đó, người đọc thường lầm tưởng đây là kinh của hệ Phát Triển.

Tuy nhiên, về mặt nội dung, Kinh A-hàm và Kinh Nikāya tương đương nhau đến 80–90%, cùng giảng dạy các giáo lý cốt lõi thời sơ kỳ như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Duyên Khởi, Vô Thường, Vô Ngã và Tam Học (Giới – Định – Tuệ).

CÂU HỎI 158: ĐỐI DIỆN CẢM GIÁC ĐAU ĐỚN KHI CẬN TỬ NẾU THIẾU PHÁP HÀNH

HỎI:

Thưa Hiền Giả, tôi là người mới bắt đầu tu tập theo chánh pháp, Hiền Giả có thể từ bi chỉ dạy cho tôi tỏ tường hơn về việc nếu một ngày tôi gần chết mà thiếu pháp hành thì tôi sẽ phải đối diện với cảm giác đau đớn ra sao được không? Liệu nó có đau đớn kinh khủng hơn việc như bị cưa sống tay chân không? Tôi xin cảm ơn.

ĐÁP:

Bị cưa cắt tay chân dù đớn đau đến mấy cũng chỉ là tổn thương cục bộ bên ngoài. Còn khi nguồn sống tận cùng bắt đầu đứt đoạn, bốn yếu tố cấu thành thân thể sẽ đồng loạt nổi loạn và tàn sát lẫn nhau từ bên trong.

Yếu tố Gió co thắt dữ dội: Biến thành hàng ngàn lưỡi dao vô hình rạch xé từng đường kinh mạch, rút ruột gan và cứa đứt từng tạng phủ từ sâu bên trong, cơn đau nội tạng mà không một loại thuốc tê hay sự can thiệp y học nào trên đời có thể chạm tới.

Yếu tố Lửa bùng cháy rồi thiêu rụi: Thiêu đốt từng dây thần kinh như hầm than đỏ, biến toàn thân thành một lò hỏa táng sống trước khi lạnh ngắt hoàn toàn.

Yếu tố Đất và Nước sụp đổ: Thân xác nặng trĩu, ngột ngạt như bị dìm sâu dưới đáy đại dương muôn trượng hay bị ngọn núi đá khổng lồ đè nát từng tế bào.

Nhưng sự tan rã thể xác ấy chưa là gì so với sự hoảng loạn tột cùng trong lộ trình tâm thức lúc lìa đời. Quý vị nằm đó, bất động, mắt không thể mở, miệng không thể kêu cứu, nhưng tâm thức lại hoàn toàn tỉnh giác để hứng chịu trọn vẹn từng làn sóng đớn đau bị nhân lên gấp hàng triệu lần.

Lúc này, mọi hành vi tham lam, giận dữ, dối trá hay hại người từng làm trong đời sẽ hiện về rõ mùng mịt như một bộ phim quay chậm. Cửa địa ngục, hầm lửa, hay những hình thái ngạ quỷ gớm giếc hiện ra nuốt chửng lấy tâm thức đang quẫn trí vì bám víu vào cái thân xác đang thối rữa.

Khi ngọn sóng cận tử tràn về, mọi lời cầu nguyện xin xỏ, mọi nghi thức cúng bái hay những ảo tưởng về sự cứu rỗi từ bên ngoài hoàn toàn sụp đổ và bất lực. Một cái tâm chưa từng thực hành Giới – Định – Tuệ, chưa từng tập luyện Chánh niệm, chưa từng nhìn thấu bản chất của thân tâm là vô thường và biến đổi, thì lấy gì để chống đỡ ngọn lửa tàn sát ấy?

Đức Phật đã dạy rõ: Không ai có thể cứu vớt hay gánh tội cho một tâm thức đang bị nghiệp dữ lôi kéo. Đừng chờ đến khi lưỡi cưa của cái chết gõ sát vào cổ mới cuống cuồng tìm đường thoát. Hãy thức tỉnh! Buông bỏ mọi hoang tưởng, quay về tự làm hòn đảo cho chính mình, tinh tấn thực hành chánh pháp ngay trong từng hơi thở hôm nay, trước khi bóng tối luân hồi nuốt chửng quý vị vào vô tận.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.

Sādhu Sādhu Lành thay!

CÂU HỎI 159: SAU 49 NGÀY ĐỨC PHẬT KHÔNG THỌ DỤNG CƠM NƯỚC THẾ GIAN

HỎI:

Thưa Thầy, sau 49 ngày không thọ dụng cơm nước thế gian, tức là chư thiên dâng cúng dưỡng chất phải không Thầy?

ĐÁP:

Trong suốt trọn vẹn bảy tuần lễ an hưởng Hỷ lạc Giải thoát, chư thiên đã liên tục đưa dưỡng chất cõi trời, gọi là Dibbojo hay Ojā, thẩm thấu trực tiếp qua các lỗ chân lông trên kim thân Đức Phật. Hơn nữa, bữa ăn cuối cùng trước khi thành đạo do cô gái Sujātā dâng cúng cũng đã được chư thiên rải dưỡng chất cõi trời vào trong quá trình nấu. Bát cháo sữa đặc biệt này chứa đựng nguồn dinh dưỡng vô cùng tinh khiết, đủ để nuôi dưỡng thân thể Bồ Tát qua suốt chuỗi ngày thiền định miên mật.

Điều đáng tiếc là chiếc bình bát được chư thiên ban tặng mà Ngài hằng ngày sử dụng đã bị thất lạc, hiện nay không còn biết chính xác ở đâu nữa.

CÂU HỎI 160: VÌ SAO CÓ NGƯỜI GIÀ TRÔNG NHƯ RA ĐI THANH THẢN?

HỎI:

Dạ thưa Thầy, con có một thắc mắc: nếu giây phút cận tử kinh hoàng vậy thì tại sao có những người già lại có thể ra đi thanh thản, là do duyên gì ạ? Tại vì không phải ai cũng biết đến Chánh pháp để đối diện cận tử nghiệp.

ĐÁP:

Đối với một người phàm phu chưa từng rèn luyện trí tuệ, chưa dứt sạch sự bám chấp vào thân tâm này, thì giây phút trút hơi thở cuối cùng là một cuộc tàn sát tâm linh cực kỳ khốc liệt, kinh hãi và hoàn toàn không có một mảy may an lạc. Sở dĩ quý vị thấy nhiều người già nằm nhắm mắt xuôi tay có vẻ dịu dàng, nhẹ nhàng là vì thân xác đó đã hoàn toàn kiệt quệ. Các cơ bắp đã liệt, thần kinh đã dại, cuống họng không còn sức để gầm hú, đôi tay không còn lực để cào xé. Người đời đứng ngoài nhìn một cái xác bất động rồi dại khờ phán rằng họ ra đi thanh thản. Đó là sự lừa mị của thị giác mà thôi.

Ẩn đằng sau vẻ tĩnh lặng giả tạo của cái xác già cỗi đó là một cơn bão kinh hoàng đang xé rạc tâm thức. Khi ngọn đèn sự sống lịm dần, sự liên kết giữa thân và tâm bị giật đứt từng đoạn, người phàm phu bị xô vào một khoảng tối đồng đen. Họ hoảng loạn nhận ra mình đang mất đi tất cả: thân thể này, người thân này, tài sản này, kiếp sống này. Lòng khao khát sống gào xé tuyệt vọng nhưng họ không thể bấu víu vào đâu. Sự tiếc nuối ngấu nghiến tâm trí, cảm giác bị nuốt chửng vào vô vọng và sự kinh hãi trước một vực thẳm mê mờ phía trước khiến tâm thức rơi vào trạng thái bấn loạn đến tột cùng. Dù lúc sống họ có là người tốt, có làm muôn ngàn việc thiện thế gian, thì nếu thiếu trí tuệ soi sáng, cơn cuồng phong của ái dục và bám chấp vẫn sẽ quật ngã họ, biến khoảnh khắc lâm chung thành một cuộc bứt xé đau đớn và hãi hùng nhất.

Sự an lạc tuyệt đối trước cái chết chưa bao giờ dành cho người phàm phu. Nó chỉ thuộc về những Bậc đã diệt trừ trọn vẹn gốc rễ tham lam, sân hận và mê mờ, những Bậc nhìn sự tan rã của thân xác như một chiếc áo cũ được trút bỏ.

Quý vị đừng vội tự ru ngủ mình bằng những cái chết trông có vẻ êm đềm của người khác. Khi thời khắc của quý vị đến, nếu trong tâm vẫn trống rỗng trí tuệ, quý vị sẽ phải tự mình trải qua sự kinh hãi và bất lực tột cùng đó. Hãy thức tỉnh và tinh tấn tu tập ngay từ giây phút này, trước khi cơn lốc cận tử ập đến và cuốn quý vị vào vực thẳm sinh tử mê mờ.


You may also like

Comment