KHẢI TUỆ QUANG

[GÓC HỎI ĐÁP & GIẢI NGHI] CÂU HỎI 141-150

Đăng bởi Khải Tuệ Quang
1 comment 190 views

Phần trước: Góc Hỏi Đáp & Giải Nghi (Câu 131–140)

CÂU HỎI 141 – ĐỨC PHẬT GOTAMA VÀ ĐỨC PHẬT METTEYYA

HỎI:

Thưa Thầy. Con còn vô minh nên có điều chưa thấu tỏ, nếu câu hỏi có lợi ích con mong được Thầy từ bi khai ngộ cho con ạ: Có phải do hạnh nguyện khác nhau nên sau khi được Đức Phật Nhiên đăng thọ ký, Đức Phật Gotama trải qua nhiều kiếp sống Bồ tát trong nhiều thời Đức Phật khác nhau, đến cách đây hơn 2600 năm mới chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác. Còn Đức Phật tương lai Metteyya thành đạo liền kề chỉ sau ngay sau khi được Đức Phật Gotama thọ ký. Và Đức Phật Gotama đản sinh thời tuổi thọ loài người ít hơn hẳn các vị Phật khác. Số lượng chúng sanh được Đức Phật độ có khác nhau không ạ thưa Thầy và khác nhau do hạnh nguyện của mỗi Đức Phật hay do duyên nghiệp của mỗi chúng sanh ạ.
🙏🙏🙏

ĐÁP:

Quý vị đang hiểu sai về tiến trình tích lũy Ba-la-mật của Chư Bồ tát rồi. Không có một vị Bồ tát nào được thọ ký xong lại lập tức thành Đạo ngay ở kiếp tiếp theo. ​Để đạt được danh hiệu Chánh Đẳng Chánh Giác, không một ai có thể đi tắt hay bỏ qua sự rèn luyện khốc liệt qua vô số đại kiếp. Đức Phật Di Lặc thuộc nhóm Bồ-tát Tấn Tăng Thượng, lấy sự tinh tấn làm gốc, nên thời gian thực hành Ba-la-mật của Ngài kéo dài tới 16 A-tăng-kỳ và 100.000 đại kiếp. Thời gian đó gấp bốn lần Đức Phật Gotama, vị Bồ-tát thuộc nhóm Huệ Tăng Thượng với 4 A-tăng-kỳ và 100.000 đại kiếp. Lời thọ ký của Đức Phật Gotama dành cho Ngài Di Lặc chỉ là sự xác nhận vị trí nối tiếp trong Hiền kiếp này. Hiện tại, vị Bồ-tát ấy vẫn đang ở cõi trời Đâu Xuất chờ đợi thời điểm căn cơ chúng sinh hội đủ, khi tuổi thọ loài người giảm xuống rồi tăng lên mức 80.000 tuổi mới giáng sinh.

​Còn việc Bồ tát Chánh Đẳng Giác đản sinh khi tuổi thọ con người chỉ khoảng 100 tuổi, đây là quy luật vận hành tự nhiên của vũ trụ. Chư Phật chỉ xuất hiện khi tuổi thọ loài người nằm trong khoảng từ 100 tuổi đến 100.000 tuổi. Nếu tuổi thọ dài hơn 100.000 tuổi, con người sống đắm chìm trong sự an lạc giả tạo, không nhìn thấy sự tàn phá của Vô Thường và Khổ Đau để khởi tâm muốn thoát khỏi sinh tử. Ngược lại, nếu tuổi thọ ngắn dưới 100 tuổi, phiền não của con người quá sâu dày và thô mộc, rất khó tiếp thu Chánh Pháp. Bồ tát giáng sinh vào thời kỳ tuổi thọ 100 năm là xuất phát từ lòng Từ Mẫn rộng lớn đối với chúng sinh trong giai đoạn phiền não bùng phát mạnh mẽ. ​Số lượng chúng sinh được giải thoát không thể đo đếm bằng lòng tham muốn hay nguyện lực đơn phương của một vị Phật.

Một vị Phật dù đầy đủ quyền năng trí tuệ cũng không thể giải thoát cho một người chưa đủ duyên lành hay không tự mình nỗ lực. Sự tương tác giữa nguyện lực Ba-la-mật của vị Phật và sự chín mùi về căn cơ, duyên nghiệp của chính chúng sinh mới quyết định cơ duyên đắc ngộ. Quý vị đang để tâm trí sa đà vào những phép toán so sánh mang tính lý thuyết, vốn là điều thuộc về cảnh giới bất khả tư nghị của một vị Phật. Những suy đoán đó không giúp quý vị giảm bớt một cơn giận, cũng chẳng làm tan biến được sự khổ đau ngay trong hiện tại. Ngọn đèn Chánh Pháp của Đức Phật Gotama vẫn đang hiện diện rõ ràng. Thay vì ngồi tính toán chuyện quá khứ hay tương lai, quý vị hãy quay về quan sát Thân, Thọ, Tâm, Pháp nơi chính mình. Thấy rõ Khổ, Vô Thường, Vô Ngã ngay trong từng hơi thở để tự cởi trói. Đó mới là sự học Pháp trí tuệ và tỉnh thức.

CÂU HỎI 142 – PHÂN BIỆT HÀNH VÀ HỮU

HỎI:

Bạch thầy. Con đọc về 12 nhân duyên nhưng chưa phân biệt rõ được HÀNH và HỮU , 2 cái này con thấy cứ na ná nhau. Mặc dù đọc bài của thầy về 12 nhân duyên nhưng chắc do con ngu quá nên ko phân biệt dc 2 cái ấy. Thầy có thể cho con ví dụ dễ hiểu không ạ. Con xin tri ân thầy 🙏🙏🙏

ĐÁP:

Hành là những tác ý tạo nghiệp qua thân, miệng và ý từ quá khứ, được vận hành dưới sự che lấp của Vô minh. Do không thấy rõ bản chất Khổ, Vô thường và Vô ngã, con người mới hành động tạo nghiệp. Lực đẩy từ Hành trong quá khứ chính là nguyên nhân gieo mầm cho sự xuất hiện của Thức tái sinh, hình thành nên cấu trúc thân tâm và các giác quan mà quý vị đang sở hữu ở hiện tại. ​Hữu lại là tiến trình tạo nghiệp diễn ra ngay trong hiện tại. Khi các giác quan tiếp xúc với thế gian, quý vị nảy sinh lòng ham muốn và bám chặt lấy những đối tượng đó. Từ sự bám giữ này, quý vị mới ra sức hành động để chiếm đoạt hoặc xua đuổi.

Hữu bao gồm hai khía cạnh:

​Nghiệp hữu: Tất cả những hành động tạo nghiệp do lòng tham chấp và bám giữ thôi thúc quý vị thực hiện ngay trong hiện tại.

‎​Sanh hữu: Cảnh giới tái sinh tương lai được hình thành và chờ sẵn quý vị bước vào từ chính những Nghiệp hữu đó.

‎​Ví dụ:
‎​Hành giống như một người đi trong đêm tối, vì không thấy đường nên lỡ tay gieo một hạt giống xuống đất. Hạt giống quá khứ ấy hôm nay đã nảy mầm thành cái cây thân xác và hoàn cảnh sống mà quý vị đang có ở hiện tại. ​Nghiệp hữu là khi quý vị đứng dưới cái cây đó, vì quá yêu thích quả ngọt của nó nên ra sức bón phân, tưới nước để tiếp tục nhân giống. Hành động chăm sóc tưới bón ở hiện tại chính là Nghiệp hữu, và khu rừng mới chắc chắn sẽ mọc lên trong tương lai chính là Sanh hữu.

​Hành là cái nghiệp quá khứ đã kéo quý vị đến kiếp sống này. Hữu là cái nghiệp hiện tại do lòng tham chấp tạo ra để chuẩn bị đưa quý vị sang kiếp sống tiếp theo. ​Hiểu rõ điều này để ngay trong hiện tại, khi lòng ham muốn hay sự bám giữ khởi lên, quý vị biết tỉnh giác dừng lại để cắt đứt Nghiệp hữu. Khi Nghiệp hữu không còn được tạo tác, bánh xe tái sinh sẽ tự động dừng lại.

CÂU HỎI 143 – NHẤT TÂM TRÊN HƠI THỞ

HỎI:

Bạch thầy cho con hỏi: khi ngồi thiền chỉ hơi thở, con tập trung vào hơi thở ở mũi, nhưng vẫn cảm nhận thấy sự chuyển động ở bụng, ngực. Như vậy là con chưa nhất tâm được? Phải làm tn để ko còn thấy sự chuyển động ở bụng, ngực nữa?
Kính mong thầy chỉ dạy ạ🙏

Sadhu! Sadhu! Lành thay!

ĐÁP:

Con không việc gì phải hoang mang hay dằn vặt rằng mình chưa nhất tâm. Việc cảm nhận thấy sự chuyển động ở ngực hay bụng trong khi đang đặt tâm ở đầu mũi là trạng thái hoàn toàn tự nhiên khi định lực chưa gom tụ đủ sâu. ​Trong pháp thiền niệm hơi thở, nhiệm vụ cốt tủy của con là duy trì sự chánh niệm ngay tại xúc điểm ở đầu mũi hoặc nhân trung. Sự chuyển động ở bụng hay ngực thực chất chỉ là phản ứng sinh lý tự nhiên của hơi thở thô, nằm ở vùng nhận thức ngoại biên. ​Cái sai lớn nhất của người hành thiền là mang tâm muốn can thiệp, muốn gượng ép hay xua đuổi để làm cho sự chuyển động ở ngực và bụng biến mất. Khi con càng cố gạt bỏ nó, con lại vô tình tạo ra sự bực bội, bất an và dính mắc ngay trên thời thiền của mình.

‎​Để thực hành đúng, con chỉ cần điều chỉnh tâm như thế này:

‎​Không xua đuổi, không chạy theo: Hãy coi sự chuyển động ở bụng hay ngực giống như tiếng xe chạy ngoài đường. Con biết nó đang diễn ra nhưng tuyệt đối không chú ý đến nó, không phân tích, cũng không dẫn dắt tâm chạy theo nhận thức đó.

‎​Kiên trì neo tâm tại đúng một điểm: Gom toàn bộ sự nhận biết về lại vị trí xúc chạm của hơi thở ở đầu mũi. Con chỉ cần hay biết luồng gió đi vào và đi ra ngay tại điểm đó một cách nhẹ nhàng, tỉnh giác.

‎​Để mọi thứ tự nhiên lắng xuống: Khi sự chú ý tại đầu mũi trở nên liên tục và sắc bén, hơi thở sẽ tự động chuyển từ thô sang vi tế. Khi định lực khởi lên, nhận thức về toàn bộ thân thể, bao gồm cả ngực và bụng, sẽ tự động mờ dần rồi biến mất mà con không cần phải dùng bất kỳ chút sức lực nào để đè nén.

‎​Thiền định là sự tỉnh giác, buông xả và quan sát thực tại đúng như nó đang là, hoàn toàn không phải là một cuộc chiến gượng ép hay kiểm soát thân thể. Con cứ bình thản tiếp tục thực hành, đừng để tâm sa đà vào việc dằn vặt đúng sai hay được mất.

CÂU HỎI 144 – QUÁ KHỨ TRONG MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN

HỎI:

” Hành là nhữg tác ý tạo nghiệp qua thân khau ý từ quá khứ…”
Con muốn hỏi là quá khứ ở đây là tính trong kiếp này ( như hồi nãy, 5 tiếng trước, hôm qua, hay 10 năm trước…) hay quá khứ là kiếp trước, nhiều kiếp trước ạ 🙏🙏🙏

ĐÁP:

Nói một giây trước, một giờ trước hay mười năm trước là quá khứ, đó là cách gọi dựa trên dòng chảy thời gian vật lý. Nhưng trong Mười Hai Nhân Duyên, khái niệm quá khứ ở mắt xích HÀNH mang ý nghĩa về mặt tiến trình tái sinh.

‎​Trong sơ đồ Mười Hai Nhân Duyên chia theo ba thời kỳ, HÀNH chỉ đích xác là toàn bộ những tác ý tạo nghiệp diễn ra ở các kiếp sống quá khứ, tức là thời điểm trước khi quý vị bước vào lòng mẹ ở kiếp này. Năng lượng từ HÀNH kiếp trước đã tạo ra kết quả trọn vẹn: nó gieo mầm cho Thức tái sinh và hình thành nên toàn bộ cấu trúc thân tâm cùng các giác quan của quý vị ở kiếp hiện tại. Quý vị hoàn toàn không thể quay lại kiếp trước để thay đổi hay can thiệp vào HÀNH được nữa.

‎​Mười năm trước hay một giây trước trong kiếp này đều thuộc về NGHIỆP HỮU, ​tất cả những suy nghĩ, lời nói, hành động tạo nghiệp diễn ra trong cùng kiếp sống này, dù là lúc quý vị mới sinh ra, mười năm trước, hôm qua, hay vừa diễn ra cách đây một giây, đều nằm trọn trong mắt xích NGHIỆP HỮU.

‎​Tại sao một giây trước trong kiếp này không được gọi là HÀNH? Bởi vì nó thuộc về giai đoạn hiện tại, được vận hành dưới sự thúc đẩy của lòng ham muốn và sự bám giữ của kiếp sống này. Tất cả những hành động tạo nghiệp đó, kể cả hành động vừa diễn ra một giây trước, đang liên tục tích lũy năng lượng nghiệp để chuẩn bị mầm mống tái sinh cho kiếp tiếp theo.

‎​Hiểu đúng là để quý vị thấy rõ: Quá khứ kiếp trước đã xong, HÀNH không thể sửa đổi. Nhưng ngay trong kiếp sống này, từng khoảnh khắc trôi qua, quý vị hoàn toàn có khả năng tỉnh giác để dừng lại, không tiếp tục tích lũy NGHIỆP HỮU. Ngừng tạo tác NGHIỆP HỮU ngay trong hiện tại thì bánh xe luân hồi mới tự động dừng lại. Tôi nói vậy đã dễ hiểu hơn chưa ?
Mười Hai Nhân Duyên không phải là một bài toán lịch sử hay lý thuyết thời gian để ngồi tranh luận. Mục đích cốt tủy của giáo lý này là giúp quý vị thấy rõ một sự thật trần trụi: Không có một cái tôi hay một linh hồn cố định nào di chuyển từ quá khứ đến tương lai, mà chỉ có sự vận hành liên tục của dòng chảy thân tâm do duyên tạo thành.

​Khi quý vị sa đà vào việc vặn vẹo xem từng khoảnh khắc ngắn nuôi dưỡng cái gì, quý vị đang bỏ quên thực tại. Sự phân định mốc thời gian thực chất rất đơn giản:

​Quá khứ là những gì đã diệt, không thể quay lại can thiệp hay sửa chữa.

​Tương lai là những gì chưa tới, không thể ngồi tưởng tượng hay suy đoán.

​Hiện tại là nơi duy nhất quý vị có sự nhận biết và có quyền lựa chọn dừng lại hay đi tiếp.

CÂU HỎI 145 – THÁNH BẤT LAI VÀ CÕI NGŨ TỊNH CƯ

HỎI:

Dạ, thưa Thầy. Những vị Thánh Bất lai được sanh về một trong 5 cõi Ngũ Tịnh Cư nhưng phải chứng Ngũ Thiền. Còn những vị chưa chứng Ngũ thiền thì sanh về các cõi sắc giới tương ứng với thiền chứng phải không ạ. Con kính Thầy chỉ giảng thêm cho con ạ

ĐÁP:

Đúng vậy, Nếu vị Bất lai chưa chứng Ngũ Thiền mà chỉ đắc các tầng thiền thấp hơn (Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền thông thường) hoặc Thiền Vô Sắc, vị ấy sẽ tái sinh về cõi tương ứng với tầng thiền cao nhất mà mình đã chứng đạt (ví dụ: chứng Sơ thiền sinh về cõi Phạm Thiên Sơ thiền, chứng Nhị thiền sinh về cõi Nhị thiền, chứng Tứ thiền Quảng Quả sinh về cõi Quảng Quả).

CÂU HỎI 146 – TAM THIỀN VÀ CÕI NHỊ THIỀN

HỎI:

Dạ, thưa Thầy . Con vẫn chưa hiểu tại sao một người chứng tam thiền nhưng lại sanh về cõi nhị thiền ạ

ĐÁP:

‎Việc một người chứng Tam thiền nhưng lại tái sinh về Cõi Nhị thiền không phải là sự mâu thuẫn hay giảm sút quả báo, mà xuất phát từ sự tương thích giữa chi thiền trong tâm và cấu trúc cõi trời trong vũ trụ. ​Cõi Sắc giới được chia cố định thành bốn tầng cõi, tương ứng đúng với bốn cấp độ thiền theo Kinh tạng. Tuy nhiên, khi phân tích sâu về tâm lý trong Vi Diệu Pháp, các tầng thiền trong tâm lại được chẻ nhỏ thành năm bước.

‎​Điều kiện để một tâm thức tái sinh về Cõi Nhị thiền ngoài vũ trụ là tâm đó phải diệt sạch hoàn toàn cả Tầm (sự hướng tâm) lẫn Tứ (sự duy trì suy nghĩ), nhưng vẫn còn chi thiền Hỷ (sự hân hoan). ​Theo cách chia năm bước thiền của Vi Diệu Pháp, người đắc Nhị thiền mới chỉ bỏ được Tầm nhưng vẫn còn Tứ. Phải tiến lên bước Tam thiền, vị đó mới bỏ trọn vẹn được Tứ. Lúc này, tâm của vị đắc Tam thiền đã sạch bóng cả Tầm lẫn Tứ, nhưng chi thiền Hỷ vẫn còn nguyên.

‎​Khi đặt trạng thái tâm của vị đắc Tam thiền (trong hệ năm bước) lên thước đo cõi trời, sẽ thấy: tâm vị này đã diệt Tầm Tứ và vẫn còn Hỷ. Trạng thái này trùng khớp hoàn toàn với tiêu chuẩn năng lượng của Cõi Nhị thiền. Do đó, lực nghiệp tái sinh tự động đưa vị đó về Cõi Nhị thiền. Tam thiền trong hệ năm bước bản chất chi thiền chính là Nhị thiền trong hệ bốn bước của Kinh tạng. Vũ trụ tái sinh vận hành theo đúng tập hợp chi thiền thực tế còn lại trong tâm chứ không vận hành theo con số thứ tự tên gọi.

CÂU HỎI 147 – BỒ TÁT VESSANTARA BỐ THÍ HAI CON

HỎI:

Thưa thầy nhân đạo hữu nói về chuyện Đức Vua Bồ Tát Vessantara bố thí hai con, con muốn hỏi lúc ấy Ngài ấy có biết và quán được rằng hai con ngài sẽ được các chư thiên đi theo hộ trì nên sẽ không gặp nguy nan về tính mạng không ạ? Xin thầy từ bi giải nghi cho con.
Và 1 thắc mắc nữa là tất cả những câu chuyện này có phải là do các vị chư thiên đã theo quan sát về sau truyền lại để các bậc Thánh tăng ghi chép lại vào Phật sử không thưa thầy?

ĐÁP:

Bồ Tát xả bỏ hai con bằng lòng buông xả tuyệt đối, không hề có tâm tính toán hay ỷ lại vào sự bảo vệ của chư thiên. ​Nếu lúc trao hai con cho gã ăn xin mà Bồ Tát nghĩ trong đầu rằng chư thiên sẽ theo sau che chở, con mình rồi sẽ không sao, thì lòng xả bỏ lúc đó đã bị gài gắm điều kiện, không còn là sự hy sinh trọn vẹn. Nỗi đau xé lòng và nước mắt của Ngài khi thấy hai đứa trẻ bị trói đánh là hoàn toàn có thật.

​Tuy nhiên, Ngài bảo vệ tính mạng cho hai con bằng chính trí tuệ thực tế: Ngài biết gã ăn xin rất hám tiền nhưng lại nghèo khổ, nên Ngài chủ động đặt giá tiền chuộc hai đứa trẻ ở mức cực kỳ cao. Bồ Tát biết chắc gã bắt buộc phải dắt hai cháu về kinh thành để đòi tiền chuộc, nhờ đó tính mạng hai đứa trẻ được bảo đảm. ​Còn việc chư thiên hóa thành cha mẹ đến vỗ về hai trẻ đêm tối hay dẫn đường cho gã ăn xin đi về kinh thành là quả báo tự nhiên sinh ra từ đức hạnh chấn động cõi trời của Bồ Tát. Chư thiên tự động phát tâm xuống giúp chứ Bồ Tát hoàn toàn không tính trước hay dựa dẫm vào đó.

​Toàn bộ các câu chuyện Tiền thân đều do chính Đức Phật tự mình thấy biết và kể lại, hoàn toàn không qua lời truyền miệng của chư thiên. ​Đêm chứng đạt giác ngộ dưới cội Bồ đề, Đức Phật đã đạt được Túc Mạng Trí, tức là khả năng nhìn thấu suốt vô lượng kiếp quá khứ của chính Ngài và chúng sinh. Trong suốt bốn mươi lăm năm giảng dạy, mỗi khi có duyên sự thích hợp, chính Ngài tự mình mở ra bức màn quá khứ để kể lại cho chư Tăng. ​Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, năm trăm vị Thánh A-la-hán trong Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất đã cùng nhau đọc tụng, kiểm chứng và ghi nhớ nguyên văn lời Ngài dạy.

CÂU HỎI 148 – LÀM HOAN HỈ TÂM TRONG THIỀN HƠI THỞ

HỎI:

Dạ, con kính bạch Thầy. Trong bài Chánh niệm và thiền quán trong đời sống hàng ngày . Trong phần quán tâm của 16 bước thiền hơi thở, có nội dung : Làm hoan hỉ tâm trong khi thở. Như vậy phải tác ý như thế nào để tâm được hoan hỉ ạ. Con kính Thầy chỉ dạy thêm cho con ứng dụng thực hành. Con kính tri ân Thầy.

ĐÁP:

Sự hoan hỉ của tâm trong bước thứ 10 của thiền hơi thở không phải là niềm vui cảm xúc thế gian, cũng không phải việc gượng ép gật gù hay mỉm cười. Đây là kỹ thuật tác ý khéo léo để làm bừng sáng tâm thức khi tâm có dấu hiệu chùng xuống hay u ám. Quý vị thực hành tác ý làm hoan hỉ tâm qua các phương cách sau:

‎​Tác ý nương vào các đề mục Tùy niệm, khi nhận thấy tâm bị uể uải hoặc chán nản trong lúc thở, quý vị khéo léo hướng sự suy nghĩ về ân đức Đức Phật, ân đức Giáo Pháp, ân đức Chư Tăng, hoặc giới đức trong sạch của bản thân. Sự hướng tâm này kích hoạt lòng tin mãnh liệt, làm cho tâm lập tức sinh ra sự hân hoan và tươi sáng. Khi tâm đã bừng sáng trở lại, quý vị đưa tâm về bám sát hơi thở.

‎​Tác ý quán xét giá trị của Chánh pháp và sự buông xả, quý vị tác ý nhận diện rõ ràng: Bản thân đang trực tiếp thực hành con đường thoát khổ của chư Thánh. Nhìn trực diện vào sự sinh diệt liên tục của từng hơi thở để thấy rõ tính chất vô thường của danh sắc. Khi tâm nhận ra sự buông bỏ được gánh nặng phiền não thế gian, một niềm vui thanh thuần và nhẹ nhõm sẽ tự động phát sinh.

​Tác ý nhận diện chi thiền Hỷ trong thiền định, khi tâm đạt được sự tịnh giác và tập trung vào hơi thở, quý vị khéo léo ghi nhận sự an tịnh và cảm giác dễ chịu do hơi thở mang lại. Sự ghi nhận này làm cho chi thiền Hỷ được nuôi dưỡng, giúp tâm hân hoan và gắn chặt trên đề mục hơi thở.

CÂU HỎI 149 – TRẠNG THÁI TÂM TRONG KHI TỌA THIỀN

HỎI:

Dạ, con Kính Bạch Thầy, con xin trình bày trải nghiệm lúc con tọa thiền, để con được Thầy mở lòng Bi mẫn giảng dạy hướng dẫn con thiền đúng cách và được tiến bộ trong tu tập
Trải nghiệm 1_ có những ngày quá nhiều phiền não, khi
Tọa thiền thì tâm con vô cùng lộn xộn
Lúc này thì cùng một lúc tâm có quá nhiều đối tượng, tâm đồng hóa cùng quá khứ vị lai, lúc này con tọa thiền không được, ngồi khoảng 20 phút bèn
Xả thiền con chuyển
Qua nghe Pháp
Trải nghiệm 2_ vào những ngày không có phiền não thì con tọa thiền rất dễ dàng, khi đã chú tâm trọn vẹn vào hơi thở ở 3 giai đoạn đầu giữa cuối, chỉ trong chốc lát cả thân và tâm rất an lạc, lúc này con vẫn quan sát hơi thở và vẫn biết rất rõ thân rất nhẹ nhàng cùng với cảm thọ lạc. Con nghe nói :thiền là phải có nhiều đối tượng để quan sát nhưng trong lúc này con chỉ biết thân đang nhẹ nhàng cùng cảm thọ lạc, như vậy con Kính hỏi Thầy :buổi tọa thiền có sai không ạ?
Khi vào buổi thiền con không có sự mong cầu chi cả
Khi trạng thái sắp bước vào sự khinh an nhẹ nhàng từ ít đến nhiều rồi tan biến dần dần con thấy rất rõ, kế tiếp là sự trở lại bình thường nhưng vẫn còn đọng lại dư âm
Là sự bình an và phẳng lặng nên tọa thiền cũng vô cùng thuận lợi, sau một lúc con nghe như có lời thôi thúc “Xả thiền đi” con lại suy tư có phải đây là si trong tập khí lâu đời xúi giục, thế rồi con tác ý *phải nỗ lực hành thiền *và con lại tiếp tục
Dạ, con trình bày sự hành thiền con kính mong được Thầy giảng dạy hướng dẫn để con có được hành trì đúng và tiến bộ trong tu tập
Con thành kính tri ân Thầy ạ!!!

ĐÁP:

Trải nghiệm của quý vị cho thấy rất rõ những trạng thái tâm lý hoàn toàn tự nhiên mà một người hành thiền phải trải qua. Khi tâm xao động và bị lôi kéo bởi những suy nghĩ về quá khứ hay tương lai, quý vị không nên hoang mang hay dằn vặt. Sai lầm phổ biến là luôn mong muốn thời thiền nào cũng phải an tịnh, để rồi khi thấy tâm lộn xộn liền sinh tâm bực bội. Đó là quý vị đang vô tình để tâm giận dữ chồng lên tâm xao động. Việc xả thiền chuyển sang nghe Pháp là một sự linh hoạt tạm thời giúp tâm bớt căng thẳng, nhưng nếu cứ hễ xao động lại bỏ cuộc thì quý vị khó tích lũy được định lực. Mục tiêu của thiền không phải là gượng ép tâm phải yên lặng, mà là hay biết rõ ràng trạng thái tâm ngay lúc đó. Ngay khoảnh khắc nhận biết tâm đang xao động, sự tỉnh giác đã hiện diện rồi, hãy kiên nhẫn quan sát nó mà không can thiệp hay oán trách.

‎​Ở thời thiền thứ hai, khi tâm an tịnh hơn, quý vị cần lưu ý một số điểm quan trọng để không đi lệch đường. Việc quan sát ba giai đoạn của hơi thở không có nghĩa là đưa tâm chạy theo luồng gió đi vào ngực hay bụng. Quý vị chỉ cần neo tâm tại một điểm xúc chạm duy nhất ở đầu mũi hoặc nhân trung, hay biết sự kéo dài của hơi thở ngay tại đúng vị trí đó. Quan niệm thiền là phải có nhiều đối tượng để quan sát là một sự hiểu sai. Thiền tuệ không phải là việc cố tình tìm kiếm hay nhảy ngót qua nhiều đối tượng, mà là sự thấy rõ bản chất vô thường, khổ và không có cái tôi cố định của bất kỳ điều gì đang hiện khởi ngay trong hiện tại.

‎​Khi cảm giác nhẹ nhàng, an lạc khởi lên, đó là kết quả của định lực. Nếu quý vị say sưa tận hưởng cảm giác này mà quên mất sự tỉnh giác, tâm tham chấp vi tế sẽ âm thầm bám chặt vào đó. Hãy nhận biết rằng cảm giác an lạc này cũng do duyên sinh ra, liên tục biến đổi và không bền vững. Thấy được sự sinh diệt của sự an lạc ngay lúc đó mới chính là trí tuệ chân thật. Còn về lời thôi thúc muốn xả thiền, quý vị đã nhận diện rất đúng, đó chính là sự vận hành vi tế của tâm lười biếng và chối bỏ sự nỗ lực. Việc quý vị nhận biết và quyết tâm tiếp tục hành thiền chính là sự tinh tấn rất đúng Chánh Pháp.

‎​Thiền không phải là cuộc đi tìm sự an lạc hay gượng ép tâm theo ý mình, mà là sự quan sát thực tại đúng như nó đang là. Khi an lạc đến, không bám chấp. Khi xao động đến, không đẩy xô. Hãy luôn giữ tâm cố định tại điểm xúc chạm ở đầu mũi và kiên nhẫn quan sát sự vận hành của thân tâm với sự tỉnh giác trọn vẹn.

CÂU HỎI 150 – Ý NGHĨA THÂM SÂU CỦA TĂNG BẢO

HỎI:

Kính Bạch Thầy,

Kính thỉnh Thầy giảng giải thêm sâu hơn cho chúng con được hiểu rõ từ “Tăng” để chúng con tăng thêm niềm tịnh tín nơi Tam Bảo ạ.

Thầy có dạy ở bài “Đối diện thực tại và tự thân phát lộ” rằng “Tăng” là những bậc thực hành tốt đẹp, thực hành ngay thẳng, thực hành chân chánh, thực hành thích hợp. Đó là bốn đôi tám bậc Thánh đệ tử, đáng được cung đón, đáng được cúng dường, đáng được tế độ, đáng được chắp tay tôn kính, là phước điền vô thượng ở đời đi đúng đắn trên con đường giải thoát.

ĐÁP:

Tăng bảo mang một ý nghĩa vô cùng thâm sâu và vượt thoát khỏi khái niệm phàm phu thế tục. Khi hướng tâm đảnh lễ hay cúng dường Tăng, điều cốt tủy là phải thấy rõ bản chất thực sự của Tăng bảo, để lòng tin không rơi vào sự dính mắc cá nhân hay mê tín dị đoan. Bản chất chân thật của Tăng không phải là một vài cá nhân riêng lẻ mang lớp áo vàng, cũng không phải là vị thầy hợp gu hay vị sư mà con có cảm tình. Tăng bảo chính là Tăng chúng đệ tử Đức Thế Tôn, biểu tượng cho tập thể Bốn đôi Tám bậc Thánh đệ tử. Đây là những bậc đã thực sự bước đi và thành tựu trên con đường giải thoát, bao gồm các vị đang hướng đến và các vị đã chứng đạt các tầng quả vị từ Tu-đà-hoàn đến A-la-hán.

Bốn phẩm chất thực hành của Tăng bảo chính là ngọn hải đăng soi sáng cho người tu tập. Thực hành tốt đẹp là sự rèn luyện trọn vẹn của Giới Định Tuệ, hướng thẳng đến sự dập tắt phiền não. Thực hành ngay thẳng là sự trung thực tột cùng của tâm thức, không dối mình, không dối người, không quanh co né tránh thực tại. Thực hành chân chánh là đi đúng trên con đường Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo, tuyệt đối không lệch sang tà kiến hay hủ tục thế gian. Thực hành thích hợp là mọi hành vi của thân, miệng, ý đều tương thích với sự buông xả, hướng trọn vẹn đến Niết-bàn.

Chính vì mang trọn vẹn những phẩm chất vô lậu đó, Tăng bảo mới trở thành phước điền vô thượng ở đời. Như một thửa đất phì nhiêu, bất kỳ hạt giống lành nào gieo xuống Tăng bảo cũng trổ ra quả an lạc tối thắng, bởi vì tâm của chư Thánh Tăng hoàn toàn thanh tịnh, không còn mầm mống của tham sân si để làm ô nhiễm vật cúng dường.

Trong đời sống hằng ngày, khi chư Tăng Tỳ-khưu giữ gìn giới luật nghiêm cẩn xuất hiện trước mặt con, các vị ấy chính là đại diện cho Tăng bảo thanh cao đó. Khi con cúng dường với tâm hoàn toàn xả bỏ, không phân biệt vị sư trước mặt là phàm hay thánh, già hay trẻ, quen hay lạ, mà chỉ hướng tâm cung kính đến toàn thể Tăng đoàn chung, thì ngai vàng của bản ngã lập tức sụp đổ. Chính thái độ tâm bình đẳng, không bám chấp và tràn đầy sự tỉnh giác đó mới giúp con cởi trói phiền não, tạo nên nguồn phước báu rộng lớn và làm tăng trưởng niềm tịnh tín kiên cố nơi Tam Bảo.


You may also like

1 comment

Khải Tuệ Minh 17 August, 2026 - 12:24 pm

Nguyện đem phước lành này làm duyên, đoạn trừ các ô nhiễm nơi tâm, thành tựu trí tuệ sắc bén và sự tinh tấn, tăng trưởng Giới–Định–Tuệ, hướng đến Niết-bàn!

Nguyện cho con sinh ra ở đâu cũng luôn được gặp Chánh pháp, gần gũi thiện tri thức và bậc thầy chân chính, xa lìa bạn ác và tà kiến!

Xin hồi hướng công đức này đến tất cả chúng sinh được an vui, giảm bớt khổ đau, đủ duyên gặp Chánh pháp và sớm giải thoát!

Trả lời

Comment