KHẢI TUỆ QUANG

[GÓC HỎI ĐÁP & GIẢI NGHI] CÂU HỎI 41-50

Đăng bởi Khải Tuệ Quang
0 comments 220 views

CÂU HỎI 41 – TÍNH LIÊN TỤC CỦA CHÁNH NIỆM

HỎI

Thưa Thầy, xin thầy cho con hỏi thêm về ” tính liên tục ” của việc thực hành Chánh niệm.

Như con hiểu thì Đức Phật và các Vị Thánh Alahan không còn hoan hỷ hay bức xúc_ các Ngài hiện diện 100 % với Chánh Niệm.

Còn như con có thực hành Chánh niệm mà có lúc được lúc thì thất niệm. Nếu như ý thức rằng khi thất niệm thì nhanh chóng thiết lập lại Chánh niệm _ đó có được gọi là liên tục không ?

ĐÁP

‎Bạn hiểu về các bậc Thánh A-la-hán là chính xác. Các Ngài đã đoạn trừ tận gốc các tùy miên phiền não nên Chánh niệm luôn hiện tiền 100% một cách tự nhiên mà không cần phải cố gắng hay dụng công phòng hộ nữa.

‎Còn đối với một hành giả đang trong giai đoạn tu tập như bạn, việc tâm lúc tỉnh lúc quên (thất niệm) là điều hết sức bình thường do tập khí huân tập từ muôn kiếp. Khi bạn rơi vào thất niệm, rồi chợt nhận ra mình vừa mất chánh niệm và nhanh chóng quay lại với đối tượng – hành động nhận biết và thiết lập lại đó hoàn toàn được tính là sự liên tục trên lộ trình thực hành.

‎Các sát-na tâm sinh diệt nối tiếp nhau liên tục và không có hai tâm cùng khởi lên một lúc. Ngay khoảnh khắc bạn ý thức được rằng “mình đang thất niệm”, thì chính cái “ý thức được” đó đã là một sát-na Chánh niệm và Tỉnh giác vừa tái khởi động rồi.

‎Sự liên tục ở giai đoạn này không có nghĩa là Chánh niệm kéo dài bất biến như một sợi dây không đứt, mà bản chất là bạn đang rút ngắn khoảng cách giữa các lần thất niệm. Bạn nhận biết càng nhanh, đà tiến của thiện pháp càng mạnh, khiến các khoảng trống quên lãng hẹp dần lại cho đến khi tâm thuần thục.

‎Bạn đang thực hành rất đúng hướng và thực tế, cứ kiên trì duy trì đà nhận biết đó là được.

Sãdhu! Sãdhu! Sãdhu!

CÂU HỎI 42 – KINH NƯỚC MẮT: NHÀM CHÁN, LY THAM VÀ GIẢI THOÁT

HỎI

Dạ , thưa Thầy. Trong bài Kinh nước mắt có câu : ” … Như vậy , này các Tỷ Kheo , là vừa đủ để các ngươi nhàm chán đối với tất cả các hành, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát”. Con kính Thầy phân tích cho con được rõ nghĩa hơn đoạn Kinh này ạ. Con kính tri ân Thầy.

ĐÁP

Câu vừa đủ để nhàm chán, vừa đủ để ly tham, vừa đủ để giải thoát không phải lời khuyên bi quan hay chán đời theo nghĩa thông thường.

Nhàm chán ở đây là chán đúng chỗ, chán vòng luân hồi, chán sự lặp đi lặp lại vô tận của sinh già bệnh chết, chán việc cứ phải khóc đi khóc lại mãi mãi cho những mất mát không bao giờ dừng. Đây là tuệ giác thấy rõ bản chất thật của khổ đau trong vòng sinh tử, không phải cảm xúc tiêu cực.

Ly tham là kết quả tự nhiên của nhàm chán đúng chỗ đó. Khi thấy rõ bám víu vào bất cứ thứ gì trong vòng luân hồi này chỉ dẫn đến nước mắt tiếp theo, tâm tự nhiên buông bỏ không cần cố gắng. Không phải ép mình không được yêu thương mà là thấy rõ bản chất của sự bám víu đó.

Giải thoát là đích đến khi nhàm chán đúng và ly tham thật sự đã được phát triển đầy đủ.

Đức Phật không kể câu chuyện nước mắt để làm quý vị buồn. Ngài kể để thức tỉnh. Khi quý vị đang bám víu vào điều gì đó, đang sợ mất điều gì đó, hãy nhớ rằng dòng tâm thức này đã mất thứ đó vô số lần rồi trong vô lượng kiếp qua, đã khóc vô số lần rồi, và sẽ còn tiếp tục như vậy bao lâu nữa nếu không tìm được lối ra.

Đó chính xác là lý do Đức Phật nói điều đó là vừa đủ. Không cần thêm bất kỳ lý do nào khác để tinh tấn tu tập ngay lúc này.

Sãdhu! Sãdhu! Sãdhu!

CÂU HỎI 43 – THIỀN QUÁN ĐỂ LY CHẤP MƯỜI HAI XỨ

HỎI
Dạ , thưa Thầy , trong nội dung Thầy chia sẻ có câu Thiền quán để ly chấp 12 xứ. Theo sự hiểu của con là khi thiền quán sẽ thấy như thật : đây chỉ là tiến trình của danh và sắc, do đủ duyên thì sanh lên và diệt đi, không có một chủ thể nào đứng sau. Từ đó không chấp tôi, chấp ngã, thấy mọi cái đều vô thường, biến hoại nên nhàm chán và xả ly với 12 xứ và hướng tới giải thoát.
Xin Thầy giảng giải thêm ạ.

ĐÁP
‎Thiền quán để ly chấp mười hai xứ chính xác là thấy rõ toàn bộ tiến trình nhận thức, từ khi căn tiếp xúc trần cho đến khi thức khởi lên, thọ tưởng hành vận hành, đều chỉ là danh sắc đang sinh diệt theo duyên, không có chủ thể nào đứng sau điều khiển. Từ cái thấy rõ đó thì chấp ngã tự nhiên lung lay và dần dần tan biến.

‎Tuy nhiên, có một điểm tinh tế cần hiểu rõ: Giữa việc hiểu bằng tư duy (Tư tuệ) và thật sự thấy điều đó bằng sự chứng nghiệm trực tiếp (Tu tuệ) là hai cảnh giới khác nhau hoàn toàn.

‎Ông Cấp Cô Độc là bằng chứng sống động nhất. Suốt cuộc đời, ông bận rộn gia duyên, không có thời gian nhập hạ tu thiền chuyên sâu như hàng xuất gia, nhưng ông vẫn chứng Sơ Quả.
Tại sao?
Không phải ông đi một con đường nào khác ngoài việc quán chiếu Danh-Sắc, mà vì tuệ quán của ông phát sinh tức thời ngay khi nghe Pháp.
Suốt đời ông, việc bố thí với tâm hoàn toàn buông bỏ, trì giới thanh tịnh tuyệt đối và niềm tin bất động vào Tam Bảo đã tôi luyện cho ông một tâm thức cực kỳ nhu nhuyễn, định tĩnh và ly cấu uế. Khi gặp đúng bài pháp tuần tự từ Đức Phật, cái tâm đã chín muồi ấy lập tức thấy rõ thực tại và chứng đắc, không cần qua một lộ trình ngồi thiền hình thức nào.

‎Bài học ở đây là gì? Tiến trình quán chiếu thực tại để ly chấp là con đường duy nhất, nhưng phương thức tiếp cận thì linh hoạt tùy căn cơ. Với người tại gia bận rộn, bố thí và trì giới đến mức tinh thuần chính là cách mài dao hiệu quả nhất, để khi lưỡi dao tuệ chạm vào giáo pháp, nó lập tức cắt đứt kiết sử. Đây không phải là con đường dễ dàng hơn, mà là sự vận dụng giáo pháp hợp hoàn cảnh một cách trí tuệ.
Sãdhu Sãdhu Sãdhu!

CÂU HỎI 44 – GIẤC MƠ CÕI ÂM VÀ VIỆC ĐỐT VÀNG MÃ

HỎI
Dạ Thầy. Con cũng đã từ bỏ việc đốt vàng mã khá lâu rồi nhưng con có 1 băn khoăn muốn Thầy giải thích giúp con ạ.
Con có chị bạn kể là khi ngủ chị hay đi âm. Chị thấy Trần sao âm vậy có nghĩa là cũng có chợ, …. Nhiều khi ngủ chị thấy những đứa trẻ không có quần áo, thì chị lại mua quần áo giấy về đốt thì sau không thấy như vậy nữa ạ.
Xin Thầy giải thích giúp con ạ.

ĐÁP
‎Hiện tượng này được giải mã trực diện qua hai tầng bản chất: Tưởng tri (Tâm thức tự tạo) và Sự tác động của Phi nhân (Chư thiên hoặc Ngạ quỷ).

‎🔴Trường hợp tưởng tri :
‎Đây là nguyên nhân chiếm hơn 90% các hiện tượng tâm linh hay mơ thấy cõi âm thông qua cơ chế Mộng tưởng sinh khởi do tập quán tâm lý

‎Cơ chế thấy: Chị bạn có một hệ thần kinh nhạy cảm, dễ rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê (Hữu phần thức – Bhavaṅga bị rúng động). Lúc này, các bộ ức niệm, nỗi sợ hãi mơ hồ về cõi âm, hoặc các hình ảnh trẻ con cơ nhỡ xem được ban ngày sẽ bị Tưởng uẩn nhào nặn thành một giấc mơ sống động như thật (thấy chợ búa, thấy trẻ con trần truồng).

‎Cơ chế hết thấy: Khi chị mua quần áo giấy về đốt, hành động này lập tức thỏa mãn và giải tỏa được tâm lý lo lắng, áy náy trong lòng chị. Khi tâm thức ghi nhận lệnh “Đã giải quyết xong bổn phận”, chốt lo âu bị bẻ gãy, Tưởng uẩn ngừng phóng chiếu hình ảnh cũ. Chị không mơ thấy nữa hoàn toàn là do tâm chị bạn đã an, chứ không có thế giới âm nào nhận đồ ở đây cả.

‎🔴Trường hợp 2 là do Phi Nhân:

‎Do Ngạ quỷ (Peta) tác động: Có những chúng sanh ngạ quỷ chịu ác nghiệp trần truồng, đói khát đang luẩn quẩn xung quanh gần đó. Họ phóng luồng năng lượng vi tế vào mạng mạch tâm thức của chị bạn khi ngủ (gọi là hiện tượng Citta-gaja – tâm bị ngoại cảnh tác động) để hiển thị hình ảnh thê lương của họ nhằm mục đích cầu cứu, xin phước.

‎Do Chư thiên báo mộng : Có những vị chư thiên hộ pháp hoặc chư thiên thiện lành ở cảnh giới xung quanh thấy hoàn cảnh đáng thương của ngạ quỷ đó, nên họ dùng thần lực tác động vào giấc mơ của chị bạn, mượn hình ảnh đứa trẻ trần truồng để nhắc nhở chị làm phước cứu giúp.

‎Ngạ quỷ không bao giờ nhận được đồ mã. Nhưng họ hết xuất hiện trong mơ là vì:

‎Trùng hợp hết nghiệp: Ngay thời điểm chị đốt mã, thời hạn trả ác nghiệp của chúng sanh ngạ quỷ đó vừa vặn kết thúc, họ lập tức mệnh chung để chuyển sinh đi cõi khác. Họ đi rồi nên không còn tác động đến chị bạn nữa.

‎Họ bỏ đi vì thất vọng: Phi nhân đến tác động để xin chị làm phước thực tế (bố thí, cúng dường rồi hồi hướng) để họ có y phục hay đồ ăn. Nhưng chị bạn lại đốt tro giấy vô dụng, họ không nhận được gì và nhận ra chị bạn không biết cách làm phước đúng Chánh pháp, nên họ rời đi tìm người khác có trí tuệ hơn để cầu xin.

‎Hiện tượng của chị bạn phần lớn là do Tưởng tri tự dẫn dắt tâm thức rơi vào ảo ảnh rồi tự thỏa mãn tâm lý. Nếu có sự tác động của Phi nhân, thì hành động đốt vàng mã của chị bạn chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên của nghiệp số hoặc một sự thất vọng của phi nhân mà thôi, hoàn toàn không có chuyện người âm nhận được quần áo giấy hay cõi âm gì này kia đâu nhé.
Ma quỷ dân gian này kia thực chất chiếm phần lớn là tưởng tri. Chỉ hiếm hoi là họ thấy được thật ngoài đời, và chúng sanh này chính là các Phi Nhân. Ngạ quỷ, Atula, Dạ xoa, và một số chư thiên cõi thấp.. Chứ không phải là linh hồn của người chết. Tu theo chánh pháp mà còn dính vào 3 cái thứ Linh Hồn là chấp vào thường kiến. Một thứ tà kiến nguy hiểm gây chướng ngại trên con đường tu tập
Ngoài những loài kể trên còn có một số loài dị thú nữa. Trong kinh cũng có mô tả, ví dụ như loài Rồng !
Sãdhu Sãdhu Sãdhu

CÂU HỎI 45 – NGHỀ NGHIỆP NGHỆ THUẬT VÀ NGHIỆP TÁI SINH

HỎI
Thưa thầy, con xin được hỏi: Trong Tương Ưng bộ Kinh, Tương ưng Thôn Trường, Thế Tôn có giải thích về cảnh giới tái sinh của một số nghề nghiệp như nhà vũ kịch. Các nghề nghiệp này đưa đến cảnh giới tái sinh là đọa xứ. Liệu có thể hiểu rằng các nghề nghiệp thiên về cảm xúc, dựa vào cảm xúc của mình, kích thích cảm xúc của người khác (như ca sĩ, họa sĩ, nhà văn …) sẽ có nhiều khả năng đưa đến đọa xứ không ạ? Mong thầy giải đáp để con có thể trừ bỏ tà kiến. Con xin cảm ơn thầy.

ĐÁP
Bản chất sự việc không nằm ở cái tên của nghề nghiệp như ca sĩ, họa sĩ hay nhà văn, mà nằm ở tâm sở Tư, tức là ý định, cùng các căn bất thiện tham, sân, si vận hành sau những tác phẩm đó.
Trong kinh Tương Ưng, sở dĩ Thế Tôn dạy rằng nhà vũ kịch bị đọa xứ là vì họ tự làm say đắm chính mình và cố tình kích thích các triền cái, làm tăng trưởng tâm tham đắm, dục vọng, sầu bi hay phẫn nộ trong lòng khán giả.
Do đó, bất kỳ ngành nghề nào thiên về cảm xúc mà được nhào nặn từ tâm ô nhiễm, có chủ đích khơi gợi lòng tham ái, sự ủy mị, oán hận hay ảo tưởng cho người khác thì người làm nghề đó đang tích lũy ác nghiệp vô cùng nặng nề.
Khi dắt dẫn người khác vào mê hồn trận của phiền não, tâm thức của chính người nghệ sĩ cũng bị trói buộc và chìm đắm trong các ác pháp. Đó chính là lý do khiến họ có xu hướng rơi vào đọa xứ sau khi thân hoại mạng chung.
Ngược lại, nếu một người nghệ sĩ dùng tài năng của mình với tâm xả ly, từ bi, hướng người đọc người xem về sự tỉnh thức, về lòng biết ơn, sự thanh tịnh hay niềm tin nơi Tam Bảo, thì đó lại là đại thiện nghiệp.
Cốt tủy của Chánh pháp là luật nhân quả vận hành qua từng sát na tâm hành, không có sự phân biệt nghề nghiệp cao thấp sang hèn.
Quý vị hãy bám sát vào việc quán sát các căn tham, sân, si ngay nơi tâm mình để đoạn trừ tà kiến.
Chúc quý vị luôn tinh tấn.

CÂU HỎI 45 – TÂM SỢ HÃI TRONG GIẤC MƠ VÀ NHỊP TIM

HỎI

Bạch thầy cho con hỏi: trong Kinh Vi Diệu Pháp có nói: 1 lộ trình tâm có 17 sát na. Lúc con ngủ mơ bị đuổi chạy, lúc đó tim con đập nhanh là do 7 sát na tốc hành sợ hãi, hay do con tim nó tự đập mà không cần tâm ạ?

ĐÁP

Khi quý vị ngủ mơ, năm cửa giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) đã đóng lại. Lúc này, tâm thức vận hành hoàn toàn bằng Lộ ý môn thuần túy độc lập để bắt lấy các cảnh cảnh cũ, cảnh tưởng tượng ký ức.

Trong giấc mơ, khi quý vị đối diện với cảnh tượng bị rượt đuổi, tâm lý lo sợ, hoảng hốt bùng lên. Theo Thắng Pháp, trạng thái sợ hãi, lo âu bản chất chính là Tâm căn Sân (Dosa-mūla-citta). Tâm căn Sân này hoạt động mãnh liệt nhất chính là tại giai đoạn 7 sát-na tốc hành (Javana) – nơi tâm xử lý và phản ứng lại với đối tượng trong mơ. Ngoại trừ các tâm quá yếu hoặc tâm hộ kiếp, thì mỗi một sát-na tâm sinh khởi đều có một năng lực đặc biệt: Tạo ra Sắc do tâm sanh (Cittaja-rūpa). Đây là những hạt vật chất vi tế do chính trạng thái tâm lý chế tác ra ngay trong cơ thể.

Khi 7 sát-na tốc hành của tâm sợ hãi (tâm sân) bùng lên liên tục, chúng lập tức sản sinh ra một lượng Sắc do tâm sanh mang đặc tính biến động, nhiệt lượng cao và co thắt.

Các sắc pháp do tâm sợ hãi này lan tỏa cực nhanh qua hệ thống huyết dịch và sắc mạng căn, tác động trực tiếp lên hệ cơ và các căn cơ vật lý của quả tim, khiến nhịp tim bị đẩy lên cao, dồn dập, gây ra cảm giác hồi hộp, vã mồ hôi y như ngoài đời thực.

Con số 17 sát-na là tuổi thọ tối đa của một Sắc pháp vật lý, hoặc là chiều dài của một Lộ ngũ môn trọn vẹn khi bắt cảnh sắc, cảnh thinh bên ngoài.

Đối với giấc mơ (thuộc lộ ý môn), tiến trình tâm diễn ra rất ngắn và linh hoạt, không nhất thiết phải kéo dài đủ 17 sát-na như lộ ngũ môn, nhưng cấu trúc 7 sát-na tốc hành (Javana) tạo nghiệp và sinh sắc pháp thì luôn giữ nguyên nguyên tắc vận hành của nó.

Quả tim đập bình thường là nhờ nghiệp lực quá khứ duy trì (Sắc do nghiệp sanh). Nhưng việc quả tim đột ngột đập nhanh, hoảng loạn trong giấc mơ hoàn toàn là kết quả áp lực vật lý từ Sắc do tâm sanh do chính 7 sát-na tốc hành sợ hãi của quý vị tạo ra. Thân và Tâm luôn là một cặp trùng trùng duyên khởi, không có cái nào hoạt động độc lập biệt lập.

Hoàn toàn không. Tâm Bhavaṅga (Hữu phần) lúc này chỉ âm thầm duy trì mạng sống. Nó không bắt cảnh của kiếp hiện tại, mà chỉ bắt lại cái “cảnh” (Nghiệp, Nghiệp tướng hoặc Thú tướng) từ sát-na cận tử của kiếp trước. Nó hoàn toàn “mù lòa” với thực tại, nên không thể biết quý vị đang ngủ hay đang nằm ở đâu.

Không một ai và không một tâm nào biết cả. Khái niệm thời gian (mấy tiếng trôi qua) thuộc về Tưởng chế định. Muốn biết thời gian, bắt buộc phải có các Lộ trình tâm chủ động (Vīthi-citta) kết hợp với chức năng đối chiếu của Tưởng uẩn (Saññā) vận hành.

Khi ngủ say, các lộ tâm nhận thức đều dừng hoạt động, trục thời gian đối với quý vị hoàn toàn biến mất. Việc quý vị biết mình ngủ mấy tiếng thực chất là sự suy đoán sau khi tỉnh giấc: Khi quý vị mở mắt thức dậy, lộ ý môn bùng lên, quý vị nhìn đồng hồ hoặc ánh nắng, rồi Tưởng uẩn mới lập tức đối chiếu với thời gian trước khi đi ngủ để tính toán ra mà thôi.

Hiện tượng ngủ say không mơ chính là minh chứng thực tế nhất cho giáo lý Vô ngã (Anattā). Nếu thực sự có một “linh hồn” hay cái tôi hằng tri hằng giác ẩn nấp bên trong, nó đã phải biết rõ thời gian đang trôi. Nhưng khi lộ tâm dừng, cái biết về hiện tại lập tức biến mất hoàn toàn. Thân tâm này chỉ là các tiến trình duyên sinh, đủ duyên thì hiện, hết duyên thì ẩn.

Sãdhu Sãdhu Sãdhu!

CÂU HỎI 46 – LỘ NGŨ MÔN VÀ LỘ Ý MÔN

HỎI

Dạ thưa Thầy!

Trong tiến trình sinh khởi lộ trình tâm, từ lộ ngũ rồi mới chuyển qua lộ ý ; hay là Chỉ một mình lộ ý vẫn sinh khởi

Dạ con Kính Thầy giảng cho con rõ, con Kính tri ân Thầy🙏

ĐÁP

‎Lộ ý môn vừa có thể đóng vai trò là kẻ tiếp nối, hoàn thiện nhận thức ngay sau lộ ngũ môn, nhưng đồng thời nó cũng sở hữu một năng lực tối thượng là hoàn toàn tự sinh khởi độc lập một mình mà không cần đến sự hỗ trợ của năm giác quan vật lý.

Tiến trình tâm ý nối tiếp năm cửa giác quan, nhận thức quen thuộc hằng ngày khi mắt, tai, mũi, lưỡi và thân thể của quý vị tiếp xúc với thế giới sắc tướng xung quanh.

‎Khi ánh sáng chạm vào nhãn căn, một lộ ngũ môn sẽ lập tức bùng lên để bắt lấy cảnh sắc hiện tại. Nhưng lộ ngũ môn này vô cùng ngắn ngủi, nó chỉ vừa đủ để ghi nhận một rung động thô sơ của thực tại. Ngay khi lộ ngũ môn này diệt đi và tâm rơi vào dòng hộ kiếp, một chuỗi các lộ ý môn nối tiếp sẽ lập tức xuất hiện ngay sau đó.

‎Nhiệm vụ của các lộ ý môn tiếp nối này là thu giữ lại bóng dáng của cảnh quá khứ vừa diệt, tổng hợp hình dáng, nhận biết ý nghĩa và cuối cùng là gọi tên đối tượng. Nếu không có sự tiếp sức kỳ diệu này của ý môn, nhận thức của quý vị sẽ mãi mãi dừng lại ở trạng thái thô sơ của một đứa trẻ sơ sinh, nghĩa là chỉ thấy một vệt sáng lóe lên chứ hoàn toàn không thể phân biệt hay hiểu được mình đang nhìn cái gì.

‎Lộ ý môn thuần túy sinh khởi độc lập

‎Vượt lên trên sự lệ thuộc vào thế giới vật lý, ý môn lấy dòng hộ kiếp làm cửa ngõ để tự mở ra một không gian nhận thức hoàn toàn riêng biệt. Lúc này, lộ ý môn độc lập sinh khởi một mình để trực tiếp bắt lấy các loại cảnh quá khứ, vị lai, các khái niệm tưởng tượng hoặc các trạng thái tâm lý vi tế. Quý vị sẽ trực nhận được dòng chảy độc lập này qua các trạng thái thực tại sau:

‎Trong đời sống nội tâm thường nhật: Khi quý vị nhắm mắt nằm yên trên chiếc giường tối hoặc ngồi tĩnh lặng trong một căn phòng vắng, lúc năm căn hoàn toàn không tiếp xúc với ngoại cảnh, nhưng tâm thức chợt bùng lên một ký ức cũ, một nỗi lo lắng cho tương lai hoặc một kế hoạch hành động. Đó chính là lúc lộ ý môn độc lập đang tự diễn dịch trò chơi của nó.

‎Trong thế giới của những giấc mơ: Khi cơ thể vật lý chìm vào giấc ngủ và năm cửa giác quan đã hoàn toàn đóng chặt, toàn bộ tiến trình biến ảo của giấc mơ đều là sự vận hành thuần túy của các lộ ý môn độc lập.

‎Trong các tầng thiền định và tuệ giác siêu thế: Đây là đỉnh cao của sự vận hành độc lập. Các lộ trình tâm chứng đắc tầng thiền định hoặc các lộ trình chứng đắc thánh quả giải thoát hoàn toàn là các lộ ý môn thuần túy siêu thế. Chúng hoạt động tách biệt, cách ly hoàn toàn với thế giới biến động bên ngoài của năm cửa giác quan.

‎Khi thấu suốt được sự chuyển dịch miên mật, quý vị sẽ thấy tâm thức thực chất không phải là một thực thể cố định, càng không phải là một linh hồn hay một cái tôi đang làm chủ. Nó chỉ là một chuỗi các tiến trình sinh diệt liên tục, tự động vận hành theo định luật của tâm thức dựa trên các điều kiện duyên sinh thích hợp.

‎Nếu quý vị ứng dụng ngay sự hiểu biết này vào hiện tại, trong lúc quý vị đang tọa thiền mà có một ý nghĩ, một hình ảnh hay một tiếng nói chợt phóng khởi lên trong đầu, quý vị chỉ cần tỉnh thức và biết rõ rằng đây chỉ là một lộ ý môn độc lập đang tự sinh rồi tự diệt do duyên.

Khi quý vị đứng ngoài để quan sát nó chuyển động khách quan mà không đồng hóa mình vào suy nghĩ đó, quý vị đang đi đúng trên con đường của tuệ quán xả ly, nơi cái tôi ngạo mạn tự động rã đám và nhường chỗ cho sự rỗng rang tự tại.

Sãdhu Sãdhu Sãdhu!

CÂU HỎI 47 – CÁCH TỲ-KHEO XỬ LÝ ĐỒ CÚNG DƯỜNG TRONG BÌNH BÁT

HỎI

Bạch thầy !
Con từng chứng kiến có người ( không hiểu có ác ý hay không ? ) cúng nguyên quả dừa cả vỏ , đầy cả bát , không biết vị sư ấy về chắc chỉ ăn cơm dừa và uống nước dừa sống qua ngày hôm sau .
Thầy giảng dạy cho chúng con được biết cách các Sư xử lý đồ ăn ạ.
Namo Buddhaya!

ĐÁP

‎Tỳ kheo đi khất thực là để gieo duyên và nuôi thân hành đạo. Thí chủ cho thức ăn ngon hay dở, chay hay mặn (đối với Phật giáo Nam truyền, miễn là thịt hợp pháp – Tam tịnh nhục), vị tỳ kheo đều hoan hỷ đón nhận mà không được phép đòi hỏi hay chê bai.

‎Luật quy định không được tích trữ thức ăn qua đêm (thức ăn phải dùng trước giờ Ngọ – 12 giờ trưa).

‎Nếu thức ăn trong bình bát quá nhiều, vị tỳ kheo không bắt buộc phải ăn hết. Họ có thể chia sẻ cho các vị đồng tu, các vị sa-di, hoặc người nuôi bệnh trong chùa. Nếu vẫn còn dư, thức ăn có thể được đem bố thí cho người nghèo hoặc người cơ nhỡ. Trong trường hợp ở nơi hoang vắng, luật cho phép bỏ thức ăn vào chỗ nước không có côn trùng hoặc bãi đất trống để bố thí cho loài vật, miễn là không làm ô nhiễm môi trường.

‎Tình huống bạn ví dụ về một quả dừa nguyên trái là một kịch bản rất thực tế và thú vị. Trong Luật tạng, việc xử lý những vật phẩm như thế này được quy định cực kỳ chi tiết:

‎Vị tỳ kheo vẫn sẽ hoan hỷ nhận quả dừa để không làm tổn thương lòng thành của thí chủ (dù họ có phần thiếu kiến thức thực tế). Khi một vật nặng hoặc to được bỏ vào bát đồng nghĩa với việc bát đã đầy, vị tỳ kheo có thể đậy nắp bát lại và kết thúc buổi khất thực để đi về.

‎Nếu bát đã đầy, vị tỳ kheo có quyền từ chối khéo bằng cách che miệng bát, vì luật cho phép không nhận thêm khi tích lượng đã đủ.

‎Về mặt xử lý để ăn (Luật Tịnh hóa):
‎Đây mới là đoạn ngặt nghèo nhất của giới luật. Luật Sa-di và Tỳ-kheo quy định: Người xuất gia không được làm tổn hại đến hạt giống và cây cối còn sự sống.
‎Quả dừa còn nguyên trái, bên trong có mầm sống (vẫn có thể mọc thành cây), vỏ chưa bị cắt gọt hay đập vỡ. Vị tỳ kheo tuyệt đối không được tự tay cầm dao bổ quả dừa đó ra.

‎Để ăn được quả dừa này, vị tỳ kheo phải mang về và nhờ một Tịnh nhân (người hộ đạo, cư sĩ áo trắng) bổ ra giúp. Người cư sĩ sẽ làm động tác tịnh hóa (Kappiya-karana) – dùng dao khía hoặc bổ quả dừa trước mặt vị tỳ kheo và nói: Bạch Đại đức, vật này hợp pháp. Lúc này, mầm sống của quả dừa xem như đã bị đoạn tuyệt, vị tỳ kheo mới được phép thọ dụng nước và cùi dừa.

‎Giới luật rất thực tế và trí tuệ, được thiết kế để diệt trừ lòng tham và sự kiêu mạn, chứ không phải một khuôn mẫu cứng nhắc hành hạ thân thể.

CÂU HỎI 48 – XUẤT GIA GIEO DUYÊN TRONG CHÁNH PHÁP

HỎI

Xin cho con hỏi. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni có dạy về việc cho hàng phật tử tại gia được xuất gia gieo duyên không.?! Bây giờ rất nhiều nơi hay tổ chức khoá xuất gia gieo duyên. Lợi ích có không?!.

ĐÁP

Trong thời Đức Phật, người ta phát tâm đi tu là hướng đến mục tiêu giải thoát trọn đời chứ không có khái niệm mở ra các khóa học ngắn ngày hẹn ngày về như bây giờ. Tuy nhiên, giới luật nguyên thủy hoàn toàn cho phép một vị tỳ kheo khi cảm thấy không kham nổi đời sống phạm hạnh thì được quyền xin hoàn tục một cách hợp pháp và trong sạch. Điều này có nghĩa là nền tảng giới luật không hề cấm đoán việc một người trải nghiệm đời sống tu hành một thời gian rồi trở lại làm cư sĩ.

Các khóa tu xuất gia gieo duyên ngày nay đúng là một phương tiện thiện xảo được tổ chức để phù hợp với bối cảnh xã hội hiện đại. Nhưng phương tiện này không hề đi ngược lại chánh pháp. Bởi vì trong suốt thời gian tham gia khóa tu, người tham gia phải xuống tóc, đắp y, thọ trì giới luật nghiêm chỉnh và sống đời sống của một bậc xuất gia thực thụ. Việc gieo một hạt giống thanh tịnh vào tâm thức, dù chỉ trong một tuần hay nửa tháng, vẫn mang lại phước báu và sự hiểu biết rất lớn, hoàn toàn đúng với tinh thần khuyến khích tu tập của Đức Phật.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.

Sādhu Sādhu Lành thay! 

CÂU HỎI 49 – TÁC Ý VÀ Ý NGHĨA CỦA XUẤT GIA GIEO DUYÊN

HỎI

Bạch Thầy, con xin hỏi là: vậy quan trọng là tác ý của người xuất gia gieo duyên phải không Thầy? Nếu ý là nhàm chán bụi trần thì tuyệt vời ạ

Con biết có trường hợp còn để tóc, có trường hợp vào để thảnh thơi, có trường hợp vì có phước, có trường hợp như 1 dịp để vượt lên chính mình dám xả tóc ạ.

ĐÁP

Tâm lý chung của rất nhiều người hiện nay là khi gặp bế tắc, đổ vỡ, thất bại, hoặc quá mệt mỏi với áp lực cuộc sống thì bắt đầu cảm thấy chán đời rồi muốn tìm đến cửa đạo để lánh nạn. Tôi phải khẳng định rằng đó không phải là sự nhàm chán của trí tuệ, mà bản chất của nó là sự phản kháng của tâm sân hận. Khi quý vị chán vì cuộc đời không diễn ra theo ý mình, đó là quý vị đang oán giận thế gian chứ không phải hiểu thế gian.

Sự nhàm chán chân chánh trong chánh pháp phải được sinh ra từ tuệ giác, tức là khi quý vị nhìn thấu suốt rằng mọi danh vọng, tiền tài, tình cảm ở thế gian này dù có đạt đến đỉnh cao thì bản chất của chúng vẫn là vô thường, biến đổi liên tục và không thể làm chỗ dựa vĩnh viễn cho tâm hồn. Sự chán này đi kèm với sự tỉnh táo, điềm tĩnh và thấu hiểu quy luật nhân quả, dẫn đến xu hướng muốn buông xả các dính mắc chứ không phải là sự ủ dột, trốn tránh thực tại.

Về những trường hợp cụ thể mà quý vị liệt kê, tôi xin chia sẻ thế này để quý vị nhìn nhận rõ ràng hơn.

Có những người vào khóa tu chỉ để tìm kiếm sự thảnh thơi, thư giãn hay để tích lũy chút phước báu. Điều này tốt, nhưng nó mới dừng lại ở phần ngọn. Nó giống như việc quý vị bước vào một kho báu vô giá nhưng lại chỉ nhặt vài viên sỏi đẹp mắt ở cửa hang mang về. Đời sống xuất gia, dù chỉ là tạm thời, bản chất của nó là một sự rèn luyện nghiêm khắc, là sự đối diện và chiến đấu với những tập khí xấu ác của chính mình thông qua hệ thống giới luật, chứ đó không phải là một chuyến đi nghỉ dưỡng tâm linh.

Còn về việc đi tu gieo duyên mà vẫn để tóc thì về mặt giới luật và ý nghĩa nguyên bản là không phù hợp. Mái tóc vốn là thứ đại diện cho vẻ đẹp thế tục, cho bản ngã và lòng tự hào của con người. Việc cạo bỏ mái tóc là bài học đầu tiên và mạnh mẽ nhất về sự xả ly. Nếu một người xem việc xuống tóc như một cơ hội để vượt lên chính mình, dám buông bỏ sự bám chấp vào ngoại hình, thì đó là một ý niệm vô cùng sâu sắc và đáng trân trọng. Nó cho thấy họ đã sẵn sàng phá vỡ một phần lớp vỏ bọc của cái tôi.

Giá trị tối hậu của việc xuất gia gieo duyên không nằm ở chỗ quý vị thể hiện hình thức ra sao, mà nằm ở chỗ cái thấy của quý vị về bản chất cuộc đời có thay đổi hay không. Ý niệm chân chánh nhất phải là mong muốn mượn môi trường thanh tịnh để thanh lọc tâm ý, nhìn rõ những ảo tưởng của thế gian để khi trở về với đời sống thường nhật, quý vị sống giữa bụi trần mà không bị bụi trần làm cho ô nhiễm, đó mới là sự hiểu biết thấu đáo

Sãdhu Sãdhu Sãdhu! 

CÂU HỎI 50 – ĐỐI TRỊ TRẠO HỐI VỀ LỖI LẦM QUÁ KHỨ

HỎI

Thưa Thầy ! Trước đây vì vô minh nên con đã phạm rất nhiều tội lỗi . Nay con mới biết đến chính Pháp và đang trên con đường tu học . Tuy nhiên cũng chính vì thế mà con thấy mình chẳng tốt đẹp gì và nhiều lúc con tự vấn bản thân, thấy ân hận, muộn phiền. Những lúc đó con lại kéo tâm về và nghĩ rằng đang phóng dật . Từ khi biết Phật pháp con dành thời gian học các bài Pháp trên trang của Thầy , thực hành thiền , mỗi lời nói hành động con đã chậm hơn trước. Con nghĩ giá như trước kia con biết tu học sẽ tốt hơn không ? Thỉnh thoảng con vẫn bị trạo hối chi phối khiến tâm con không được bình an .Con phải làm sao thoát ra được, xin Thầy từ bi chỉ dạy cho con

ĐÁP

‎Khi ngồi tiếc nuối và dằn vặt bản thân, quý vị đang vô tình nuôi dưỡng một tâm sân ẩn tàng, đó là sự bất mãn và chối bỏ chính cái quá khứ của mình. Mỗi một giây phút quý vị chìm trong sự tự trách là một giây phút quý vị đang tiếp tục tạo ra ác nghiệp mới ngay trong tâm thức của hiện tại. Việc này chẳng khác nào quý vị đã bị trúng một mũi tên trong quá khứ, rồi bây giờ lại tự đâm thêm một mũi tên thứ 2 nữa vào chính mình.

‎Ý nghĩ giá như ngày xưa mình biết đến Phật pháp sớm hơn chính là biểu hiện của sự phóng dật và hoạt động của tưởng tri phóng ra. Quá khứ đã diệt rồi, nó hoàn toàn không còn tồn tại nữa. Việc quý vị dính mắc vào cái không còn thực tế chỉ làm tiêu hao năng lượng của hiện tại một cách vô ích. Chánh pháp không dạy chúng ta quay đầu lại để khóc lóc hay dằn vặt, mà dạy chúng ta tỉnh thức ngay trong giây phút này. Nếu không có những vấp ngã và tổn thương trong quá khứ, chưa chắc hôm nay quý vị đã có đủ tâm tư để tầm cầu con đường giải thoát này phải vậy không ?

‎Con đường chân chánh không phải là ngồi im ân hận, mà là nhận biết sai lầm là sai lầm, chấp nhận nó như một tiến trình của vô minh, sau đó lập nguyện phòng hộ, giữ gìn giới hạnh cho tương lai để không tái phạm nữa. Hãy nhìn vào tấm gương của tôn giả Vô Não, người từng phạm những tội lỗi cực kỳ khủng khiếp trước khi gặp Đức Phật. Nhưng khi ngài quyết định dừng lại, buông bỏ quá khứ và quay về với chánh niệm trọn vẹn trong hiện tại, ngài đã chứng đắc thánh quả tối cao. Đức Phật không bao giờ phán xét quá khứ của một ai, Ngài chỉ nhìn vào sự tỉnh thức ngay bây giờ của họ.

‎Hiện tại quý vị đã biết sống chậm lại, biết thực hành thiền và học pháp, đó là một bước tiến vô cùng lớn lao và có phước báu rất dày. Khi tâm trạo hối và sự dằn vặt khởi lên, quý vị đừng cố gắng dùng ý chí để đè nén hay kéo tâm về một cách căng thẳng, cũng đừng tự trách mình đang phóng dật. Hãy nhẹ nhàng dùng chánh niệm để quan sát cái cảm giác dằn vặt đó.
‎Quý vị chỉ cần ghi nhận rõ ràng rằng có tâm dằn vặt đang sinh khởi. Hãy nhìn thấy nó như một hiện tượng tâm lý khách quan, nó sinh lên do duyên và nó cũng sẽ diệt đi theo quy luật vô thường. Nó không phải là quý vị, cũng không phải của quý vị. Khi quý vị đứng tách rời ra để quan sát nỗi ân hận đó mà không đồng hóa mình với nó, tự khắc nó sẽ mất đi năng lượng và tan biến.

‎Điều quan trọng nhất trên đời này không phải là quý vị đã từng đứng ở đâu trong quá khứ, mà là quý vị đang bước đi theo hướng nào trong hiện tại. Hãy bao dung với chính mình, tiếp tục kiên trì giữ gìn giới hạnh và soi chiếu tâm ý trong từng khoảnh khắc hiện tại.

‎Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.

‎Sādhu Sādhu Lành thay! 


You may also like

Comment