Niết bàn không phải là cảnh giới để suy lường, bởi mọi suy lường đều khởi sinh từ ý thức hữu vi – thứ vốn dĩ là ngọn nguồn của sinh diệt.
Niết bàn là thực tại Vô vi, là điểm tận cùng nơi mà mọi tiến trình tạo tác của tâm thức hoàn toàn tan rã. Đó không phải là một cõi đi về, cũng không phải là sự hư vô hóa diệt, mà là sự hiển lộ của cái Bất tử khi ngọn lửa tham ái đã cạn kiệt nhiên liệu. Khi một tâm thức không còn bị thiêu đốt bởi mười kiết sử, không còn bị chi phối bởi các lậu hoặc, thì thực tại ấy tự hiện tiền như một sự tĩnh lặng tuyệt đối, không cần nương tựa, không cần kiến tạo.
Bản chất của Niết bàn là sự đoạn tận của Hữu. Phàm phu luân hồi vì luôn khao khát được trở thành, được là một cái gì đó trong dòng thác của thời gian. Nhưng Niết bàn là sự dừng lại toàn triệt của bánh xe duyên khởi. Tại đó, không có dấu vết của đất, nước, lửa, gió; không có sự hiện diện của không gian vô biên hay thức vô biên. Đó là một xứ mà ngôn từ thế gian gọi là trống rỗng, nhưng tuệ giác của bậc Thánh lại thấy đó là sự viên mãn tột cùng, vì nó không còn chịu sự chi phối của định luật biến hoại.
Nếu còn một mảy may ý niệm về tôi chứng đắc Niết bàn, thì đó vẫn chỉ là một dạng hý luận vi tế của bản ngã, là rào cản ngăn cách hành giả chạm vào cái thực tại tối hậu này.
Niết bàn là sự tự do tuyệt đối khỏi mọi hình thái của khổ đau, nhưng sự tự do này không đến từ việc tìm kiếm cái lạc, mà đến từ việc thấu triệt bản chất của khổ. Khi tuệ quán sắc bén như gươm báu cắt đứt sự bám víu vào ngũ uẩn, khi hành giả thấy rõ rằng chẳng có một thực thể nào đang vận hành sau những cảm thọ và suy tư, thì lúc đó, cái chưa từng sinh sẽ hiển lộ. Nó bền vững vì nó không bao giờ sinh ra, nó an lạc vì nó không bao giờ bị biến đổi. Niết bàn chính là sự im lặng sấm sét của một tâm thức đã buông xuống gánh nặng của toàn bộ thế giới, không còn để lại một vết rạn nứt nào cho sự đau thương hay ưu tư len lỏi vào.
Thật sự, Niết bàn vượt thoát mọi khái niệm về tồn tại hay không tồn tại. Mọi nỗ lực định nghĩa về Niết bàn bằng trí năng chỉ là việc dùng một chiếc cốc nhỏ để múc cạn đại dương. Chỉ khi nào mọi tiếng ồn của tư duy nhị nguyên tắt lịm, khi mọi khái niệm về trong và ngoài, đây và kia bị xóa sổ, thì khi ấy hương vị của giải thoát mới thực sự thấm đẫm. Đó là thực tại của bậc A-la-hán, một sự hiện hữu không còn dấu vết, giống như đường bay của chim giữa hư không, không để lại một vết tích nào cho thế gian có thể dò dẫm. Niết bàn chính là chân lý tối hậu, là bến bờ bất động giữa dòng đời biến hiện khôn lường.
Khải Tuệ Quang –
