Trong lộ trình tầm cầu giải thoát, việc thấu thị bản chất và tiến trình đoạn diệt tận gốc rễ của các trạng thái tâm lý bất thiện không chỉ là nền tảng của Tuệ quán (Vipassanā), mà còn là thước đo tuyệt đối cho sự chứng ngộ tâm linh. Dựa trên nguồn mạch tinh tuyền của Tam tạng Pali, Phật giáo Nguyên thủy vạch rõ một lộ trình nghiêm cẩn, bất di bất dịch: nơi mỗi tầng Thánh Đạo đi qua là một lần xiềng xích kiết sử bị đập tan, một phần bóng tối của tâm thức bị nhổ bật rễ bằng năng lực của Tuệ Thánh Đạo.
Sự tu tập không phải là sự kìm nén nhất thời, mà là sự đoạn diệt vĩnh viễn. Dưới đây là phân định chuẩn xác tối hậu về lộ trình đoạn trừ 10 Kiết sử, 14 Tâm sở bất thiện và 12 Tâm bất thiện qua bốn tầng Thánh Đạo.
Bậc Sơ Đạo – Cổ Xe Vào Dòng (Sotāpatti-magga)
Về Kiết sử : Diệt tuyệt căn hoàn toàn 3 hạ phần kiết sử đầu tiên:
Sakkāya-diṭṭhi: Thân kiến (chấp ngã, chấp uẩn là ta).
Vicikicchā: Hoài nghi (nghi ngờ Phật, Pháp, Tăng, Tam học, Giáo pháp).
Sīlabbata-parāmāsa: Giới cấm thủ (chấp thủ vào các nghi lễ, tập tục sai lạc để cầu giải thoát).
Về Tâm sở bất thiện: Diệt tận gốc hoàn toàn 4 tâm sở:
Diṭṭhi: Tà kiến.
Vicikicchā: Hoài nghi.
Issā: Tật (Ghen tị trước thành công của người khác).
Macchariya: Lận (Bỏn xẻn, ích kỷ, khư khư giữ cho mình).
Về Tâm bất thiện : Diệt trừ hoàn toàn 5 trong số 12 tâm bất thiện:
4 Tâm Tham tương ưng tà kiến (Diṭṭhigata-sampayutta).
1 Tâm Si tương ưng hoài nghi (Vicikicchā-sampayutta).
Hiệu năng tâm thức: Các tâm sở bất thiện còn lại chưa đoạn tận, nhưng đã được làm suy giảm triệt để các tầng thô. Vị này vĩnh viễn không còn khả năng tạo các ác nghiệp nghịch đại giới (vượt ra ngoài Ngũ giới) và tuyệt đối không bao giờ sa đọa vào 4 đường ác đạo (Địa ngục, Ngạ quỷ, Bàng sanh, A-tu-la).
Bậc Nhị Đạo – Nhất Lai (Sakadāgāmi-magga)
Về Kiết sử : Không đoạn tiệt hoàn toàn kiết sử mới nào, nhưng làm muội lược, bào mòn tối đa 2 hạ phần kiết sử tiếp theo:
Kāmarāga: Dục ái (tầng thô thiển).
Vyāpāda / Paṭigha: Sân độc / Phẫn hận (tầng thô thiển).
Về Tâm sở bất thiện: Không đoạn tuyệt tận gốc thêm tâm sở mới nào.
Hiệu năng tâm thức: Bào mòn và làm suy yếu cực hạn năng lực vận hành của 2 tâm sở căn bản:
Lobha: Tham (giảm thiểu sự đắm say thô bạo vào ngũ trần).
Dosa: Sân (vắng bóng các cơn phẫn nộ, hung bạo, chỉ còn các trạng thái bất bình, khó chịu vi tế).
Vị này chỉ còn tái sanh lại cõi Dục giới tối đa một lần duy nhất trước khi đắc đạo quả tối hậu.
Bậc Tam Đạo – Bất Lai (Anāgāmi-magga)
Về Kiết sử : Tuyệt diệt hoàn toàn trọn vẹn 5 hạ phần kiết sử bằng việc nhổ bật gốc 2 kiết sử đã suy yếu ở tầng trước:
Kāmarāga: Dục ái (vĩnh viễn không còn dính mắc vào sắc, thanh, hương, vị, xúc).
Vyāpāda / Paṭigha: Sân (vĩnh viễn không còn một gợn bất bình hay oán hận).
Về Tâm sở bất thiện : Diệt tận gốc hoàn toàn thêm 2 tâm sở:
Dosa: Sân (hoàn toàn biến mất mọi trạng thái bực dọc, hận thù, hay chán ghét dù là vi tế nhất).
Kukkucca: Hối (tâm lý day dứt, hối hận về lỗi lầm quá khứ hoặc tiếc nuối việc lành chưa làm).
Về cấu trúc Tâm sở Tham: Vị này bẻ gãy hoàn toàn phần Kāmarāga (Dục tham), chỉ còn lại phần Bhavarāga (Hữu tham – sự bám chấp vào định cảnh Sắc giới và Vô sắc giới).
Về Tâm bất thiện: Diệt trừ hoàn toàn thêm 2 tâm bất thiện:
2 Tâm Sân phẫn hận (Dosa-mūla-citta). Từ đây tâm thức vị này luôn tràn ngập hỷ lạc, từ mẫn, vĩnh viễn không còn khổ thọ.
Hiệu năng tâm thức: Thân và tâm hoàn toàn ly dục, sau khi thân hoại mạng chung vĩnh viễn không quay lại cõi Dục giới, mà hóa sanh thẳng lên các cõi Tịnh Cư Thiên (Suddhāvāsa) thuộc Sắc giới và đắc A-la-hán tại đó.
Bậc Tứ Đạo – Ứng Cúng / Sát Tặc (Arahatta-magga)
Về Kiết sử : Đoạn tận hoàn toàn không còn dư sót 5 thượng phần kiết sử:
Rūpa-rāga: Sắc ái (tham đắm trong thiền định Sắc giới).
Arūpa-rāga: Vô sắc ái (tham đắm trong thiền định Vô sắc giới).
Māna: Ngã mạn (sự so sánh ngầm ta bằng, ta hơn hay ta kém người).
Uddhacca: Trạo cử (sự dao động, xao lãng vi tế của tâm thức).
Avijjā: Vô minh (sự che lấp của Si đối với Tứ Diệu Đế).
Về Tâm sở bất thiện: Diệt sạch bách tận gốc rễ 8 tâm sở bất thiện còn lại trong hệ thống 14 tâm sở:
Nhóm Si phần (Moha-catuka): Moha (Si/Vô minh), Ahirika (Vô tàm), Anottappa (Vô quý), Uddhacca (Trạo cử).
Nhóm Tham phần: Māna (Mạn). Đồng thời diệt tận gốc phần còn lại của tâm sở Lobha (Hữu tham).
Nhóm Hôn trầm (Thīna-duka): Thīna (Hôn trầm) và Middha (Thụy miên) – Xét trên phương diện tâm sở ô nhiễm thụ động đi kèm trong các tâm hữu trợ (Sasaṅkhārika-citta). Khi gốc rễ bất thiện bị nhổ sạch, hai tâm sở này hoàn toàn không còn chỗ phối hợp.
Về Tâm bất thiện (Citta): Tuyệt diệt hoàn toàn 5 tâm bất thiện cuối cùng:
4 Tâm Tham ly tà kiến (Diṭṭhigata-vippayutta).
1 Tâm Si tương ưng trạo cử (Uddhacca-sampayutta).
Bậc A-la-hán hoàn toàn chấm dứt 12 tâm bất thiện. Mọi hành động thân, khẩu, ý của các Ngài không tạo ra Nghiệp (Kamma) mà chỉ còn là Duy Tác (Kiriya). Thân và tâm hoàn toàn thanh tịnh, vô nhiễm, dập tắt hoàn toàn lửa tham, sân, si, chấm dứt tiến trình tái sanh luân hồi.
Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
Sādhu Sādhu Lành thay!
– Khải Tuệ Quang –
