KHẢI TUỆ QUANG

NUÔI CÁI GÌ THÌ CÁI ẤY LỚN

Đăng bởi Khải Tuệ Quang
0 comments 231 views

(Giảng giải Kinh Thức Ăn trong Tương Ưng Giác Chi)

Biên Soạn: Khải Tuệ Quang

Thưa quý vị,

Có những bài kinh dạy chúng ta phải làm gì. Có những bài kinh dạy chúng ta phải hiểu gì. Nhưng có một bài kinh chỉ làm đúng một việc: nó phơi bày cơ chế.

Cơ chế của việc tại sao phiền não trong ta cứ lớn mãi dù ta không hề muốn. Và cơ chế của việc tại sao tuệ giác trong ta cứ còi cọc dù ta rất mong nó lớn.

Bài kinh ấy nằm trong Tương Ưng Giác Chi thuộc Tương Ưng Bộ, tên gọi là Kinh Thức Ăn.

Trước khi vào nội dung, tôi xin thưa rõ về nguồn, vì trong việc giảng pháp thì sự chính xác là một hình thức của lòng tôn kính.

Trong cùng Tương Ưng Giác Chi có hai bài kinh anh em. Bài thứ nhất là Kinh Thân, đứng gần đầu phẩm, mở ra bằng hình ảnh thân này sống nhờ thức ăn, và áp dụng hình ảnh ấy cho năm triền cái và bảy giác chi. Bài thứ hai là Kinh Thức Ăn, bổ túc nốt nửa còn lại: không chỉ nói cái gì nuôi chúng, mà nói cả cái gì làm chúng chết đói.

Hai bài ấy hợp lại thành một giáo lý hoàn chỉnh.

Và tôi xin nói trước một điều. Bài kinh này không dùng một chữ nào để trách móc. Nó không nói quý vị lười. Không nói quý vị nghiệp nặng. Không nói quý vị căn cơ thấp. Không nói thời nay mạt pháp.

Nó chỉ nói một câu, và câu ấy giải thích được toàn bộ đời tu của quý vị:

Cái gì được cho ăn thì cái ấy lớn. Cái gì không được cho ăn thì cái ấy chết.

Đơn giản đến mức tàn nhẫn. Và không ai trốn được nó.

🟥 PHẦN MỘT: MỘT CHỮ MÀ CẢ GIÁO PHÁP ĐỨNG TRÊN

Câu hỏi đầu tiên của một người mới vào đạo

Trong Kinh Tiểu Tụng có một bài rất ngắn, gọi là Nam Tử Hỏi Đạo. Đó là loạt câu hỏi đáp mà theo truyền thống, một vị sa di bảy tuổi phải trả lời được.

Câu hỏi thứ nhất là: Thế nào là một?

Và câu trả lời thứ nhất, câu đầu tiên mà một người con Phật học thuộc, là: Tất cả chúng sinh đều tồn tại nhờ thức ăn.

Thưa quý vị, xin quý vị dừng lại ở chỗ này.

Trong toàn bộ vũ trụ quan của đạo Phật, điều được đặt lên hàng đầu tiên, trước cả Tứ Diệu Đế, trước cả năm uẩn, không phải là một tuyên ngôn siêu hình. Nó là một sự thật rất tầm thường: mọi thứ đang tồn tại đều đang được nuôi bởi một cái gì đó.

Không có gì tự đứng một mình. Không có gì tự sinh ra từ hư không. Mọi thứ đang có mặt đều là vì có cái gì đó đang đưa vào nó.

Và đó chính là chìa khóa của bài kinh hôm nay.

Phân biệt cho thật rõ hai nghĩa của chữ thức ăn

Đến đây tôi phải dừng lại để ngăn một sự lẫn lộn rất thường gặp.

Trong Kinh tạng, chữ thức ăn được dùng theo hai nghĩa khác nhau, và người học pháp phải phân biệt cho rõ, nếu không sẽ trộn lẫn hai giáo lý vào nhau.

Nghĩa thứ nhất là bốn loại thức ăn, mà Đức Phật dạy trong Tương Ưng Nhân Duyên: đoàn thực tức vật thực thô, xúc thực, tư niệm thực, và thức thực. Bốn loại này là bốn thứ duy trì sự hiện hữu của chúng sinh và đưa đến tái sinh. Đó là một giáo lý về dòng luân hồi.

Nghĩa thứ hai là nghĩa của bài kinh hôm nay: thức ăn hiểu như là duyên nuôi dưỡng cho một trạng thái tâm sinh khởi và lớn mạnh. Đây không phải bốn thức ăn kia. Đây là một cách dùng chữ để chỉ điều kiện nuôi sống.

Hai nghĩa ấy cùng chia một chữ nhưng nói hai việc. Người nào trộn chúng lại sẽ giảng sai cả hai.

Trong bài này, khi tôi nói thức ăn, tôi nói theo nghĩa thứ hai.

Hình ảnh mở đầu

Kinh Thân mở ra như sau.

Đức Thế Tôn dạy rằng ví như thân này được nuôi sống nhờ thức ăn, tồn tại nhờ thức ăn, không có thức ăn thì không tồn tại được.

Rồi Ngài nói: cũng vậy, năm triền cái được nuôi sống nhờ thức ăn, tồn tại nhờ thức ăn, không có thức ăn thì không tồn tại được. Và cũng vậy, bảy giác chi được nuôi sống nhờ thức ăn, tồn tại nhờ thức ăn, không có thức ăn thì không tồn tại được.

Xin quý vị nghe cho kỹ điều Đức Phật đang nói.

Ngài đang nói rằng những thứ vô hình trong tâm quý vị vận hành theo đúng quy luật của những thứ hữu hình trong thân quý vị.

Cơn tham của quý vị không phải là một định mệnh. Nó được ví như là một sinh vật, và nó đang được cho ăn mỗi ngày.

Cơn giận mà quý vị mang theo hai mươi năm không phải là tính cách. Nó là một sinh vật, và nó đang được cho ăn mỗi tháng một lần, mỗi lần quý vị lấy nó ra ôn lại.

Trí tuệ của quý vị không phải là một món quà trời cho. Nó cũng là một sinh vật, và nó đang chết đói mỗi ngày.

Quý vị không cần chiến đấu với phiền não bằng ý chí. Quý vị chỉ cần ngừng nuôi nó.

Và quý vị không cần cầu xin ai ban cho tuệ giác. Quý vị chỉ cần bắt đầu cho nó ăn.

Đó là toàn bộ bài kinh này. Phần còn lại là chi tiết.

🟥 PHẦN HAI: NĂM THỨ CHE LẤP VÀ MÓN ĂN CỦA CHÚNG

Năm triền cái là năm thứ che lấp tâm, khiến tâm không thể định, và do đó không thể thấy.

Trong Kinh Saṅgārava thuộc cùng Tương Ưng Giác Chi, Đức Phật ví chúng bằng năm bát nước, và hỏi người soi vào có thấy được mặt mình không.

Tham dục như bát nước pha đủ thứ phẩm màu. Sân hận như bát nước đang sôi sùng sục. Hôn trầm thụy miên như bát nước bị rong rêu phủ kín. Trạo cử hối quá như bát nước bị gió thổi gợn sóng liên tục. Hoài nghi như bát nước đục ngầu bùn đất, lại để trong chỗ tối.

Năm bát nước ấy đều không soi được mặt. Và xin quý vị lưu ý: nước vẫn là nước. Không có bát nào mất đi bản chất của nước. Chúng chỉ bị làm cho không dùng được.

Tâm quý vị cũng vậy. Nó không hỏng. Nó chỉ đang bị che.

Bây giờ tôi xin đi qua từng thứ một, theo đúng thứ tự và đúng từ ngữ của bài kinh. Xin quý vị vừa đọc vừa tự soi.

Thứ nhất: Tham dục

Thức ăn. Đức Phật dạy: có tịnh tướng, và ở đây, phi như lý tác ý được làm cho sung mãn. Đó là thức ăn khiến tham dục chưa sinh được sinh khởi, và tham dục đã sinh được tăng trưởng.

Cả bài kinh xoay quanh hai chữ tác ý, nên tôi xin giải thích cho thật rõ ngay từ mục đầu tiên này.

Tịnh tướng nghĩa là khía cạnh khả ái, đẹp đẽ, dễ ưa của một đối tượng. Xin quý vị hiểu cho đúng: nó không phải là tội lỗi. Một bông hoa có khía cạnh đẹp. Một món ăn có khía cạnh ngon. Một con người có khía cạnh dễ mến. Đó là sự thật, không phải ảo giác.

Cái sinh ra tham không phải là bông hoa.

Cái sinh ra tham là việc tâm dừng lại ở khía cạnh ấy, xoáy vào đó, tô đậm nó lên, và lặp đi lặp lại.

Đó chính là phi như lý tác ý: chú ý không đúng cách, chú ý lệch khỏi bản chất.

Thưa quý vị, chúng ta hãy thành thật với nhau. Một cơn tham không sinh ra từ một cái nhìn. Nó sinh ra từ cái nhìn thứ hai, thứ ba, thứ mười. Nó sinh ra từ việc nằm trên giường mà nghĩ đi nghĩ lại. Từ việc mở điện thoại lên xem lại thêm một lần. Từ việc kể cho người khác nghe để được nghĩ về nó thêm một lần nữa dưới danh nghĩa trò chuyện.

Mỗi lần tâm quay lại là một bữa ăn.

Không ai thức dậy buổi sáng rồi quyết định hôm nay tôi sẽ nghiện. Người ta chỉ cho nó ăn mỗi ngày một ít, rất tự nhiên, rất vô hại, và một hôm phát hiện ra nó đã đủ lớn để nuốt mình.

Cách cắt thức ăn. Kinh Thức Ăn dạy rằng thức ăn khiến tham dục chưa sinh không sinh, và đã sinh được đoạn trừ, chính là bất tịnh tướng cùng với như lý tác ý trên đó.

Nghĩa là không phủ nhận cái đẹp, mà nhìn cho đủ. Thân này có mặt được trang điểm và có mặt không ai muốn nhìn. Món ăn ấy sau ba giờ trong bụng thì thành gì. Người ấy sau ba mươi năm thì ra sao.

Nhưng đến đây tôi phải dừng lại và nói một điều hết sức nghiêm túc, vì tôi đã thấy nhiều người vấp ngã đúng chỗ này.

Bất tịnh tướng là để thấy sự thật, không phải để sinh ghê tởm.

Ghê tởm là sân. Mà sân là một triền cái khác. Chữa tham bằng sân thì chỉ là đổi bệnh, và bệnh sau thường nặng hơn bệnh trước.

Trong Kinh Vesālī thuộc Tương Ưng Bộ có ghi lại một bi kịch. Đức Thế Tôn dạy chư Tỳ kheo về pháp quán bất tịnh, rồi tuyên bố độc cư nửa tháng. Trong thời gian ấy, một số vị tu tập sai cách: họ không nhìn thân bằng trí tuệ mà nhìn bằng sự khó chịu, xấu hổ, ghê tởm. Một số vị đã tìm đến cái chết. Khi xả độc cư và thấy Tăng chúng thưa hẳn, Đức Thế Tôn hỏi Tôn giả Ānanda, rồi cho tập hợp chư Tỳ kheo và dạy pháp định niệm hơi thở vào ra, mô tả pháp ấy là an tịnh, vi diệu, thuần nhất, là chỗ trú an lạc, có khả năng làm lắng dịu ngay tức khắc các pháp bất thiện vừa sinh khởi, như cơn mưa lớn trái mùa làm lắng xuống ngay tại chỗ những bụi bặm đang bay mù mịt.

Bài học ấy đã được trả giá bằng sinh mạng.

Như lý tác ý là nhìn cho đúng, không phải nhìn cho ghét.

Sáu điều giúp đoạn trừ tham dục: học cho thuộc về bất tịnh tướng, chuyên cần tu tập quán bất tịnh, phòng hộ các căn, tiết độ trong ăn uống, thân cận bạn lành, và nói những câu chuyện thích hợp.

Xin quý vị để ý hai điều cuối. Chúng sẽ trở lại ở cả năm triền cái, và tôi sẽ nói về chúng ở cuối phần này.

Thứ hai: Sân hận

Thức ăn. Đức Phật dạy: có chướng ngại tướng, và ở đây, phi như lý tác ý được làm cho sung mãn. Đó là thức ăn của sân hận.

Chướng ngại tướng là khía cạnh đáng ghét, đáng chống đối của một đối tượng.

Cũng theo đúng cơ chế trên: người kia có thể đã thật sự nói một câu khó nghe. Đó là sự thật. Nhưng cơn giận ba ngày của quý vị không đến từ câu nói ấy.

Nó đến từ việc quý vị đã diễn lại câu nói ấy trong đầu ba mươi lần, mỗi lần lại thêm một chi tiết, mỗi lần lại nghĩ ra một câu đáp trả hay hơn.

Mỗi lần diễn lại là một bữa ăn.

Và đây là chỗ tôi xin quý vị soi thật kỹ, vì sân là thứ ngụy trang giỏi nhất trong năm triền cái.

Nó không bao giờ tự xưng là sân. Nó xưng là tôi chỉ đang phân tích cho ra lẽ. Nó xưng là tôi bảo vệ lẽ phải. Nó xưng là tôi chỉ nói sự thật thôi. Nó xưng là tôi làm vậy vì thương họ. Và khi ở trong chùa, nó có bộ y đẹp nhất: nó xưng là tôi đang bảo vệ chánh pháp.

Nó ăn rất khỏe. Một người có thể nuôi một cơn sân suốt hai mươi năm chỉ bằng cách mỗi tháng lấy nó ra ôn lại một lần. Rất ít công, mà con vật vẫn béo tốt.

Cách cắt thức ăn. Kinh Thức Ăn dạy: có tâm giải thoát bằng từ, cùng với như lý tác ý trên đó, khiến sân chưa sinh không sinh và đã sinh được đoạn trừ.

Xin lưu ý bài kinh không nói chỉ cần nghĩ những điều tử tế. Bài kinh nói tâm giải thoát bằng từ, tức tâm từ được tu tập đến mức thành một trạng thái vững chắc, có phương pháp: bắt đầu từ chính mình, rồi người mình quý, rồi người trung tính, rồi mới đến người mình khó chịu, rồi rải khắp mười phương không giới hạn.

Ép mình phải thương ngay một người đang làm mình giận thường là bất khả, và cố gắng ấy chỉ sinh ra sự giả dối với chính mình.

Với người đang nuôi cơn giận nặng: hãy tìm cho ra một điểm tốt nơi người ấy mà chú tâm vào. Nếu thân hành của người ấy không trong sạch mà khẩu hành trong sạch thì hãy nhìn vào khẩu hành. Nếu cả hai đều không trong sạch mà ý hành có chỗ trong sạch thì hãy nhìn vào đó. Và nếu cả ba đều không trong sạch, thì hãy khởi lòng thương xót, như người đi đường xa gặp một kẻ đau bệnh nằm ngã giữa đường, không có ai chăm sóc.

Thưa quý vị, đó chính là đổi món ăn cho tâm. Không phải gồng lên chống lại cơn giận, vì chống lại cơn giận bằng ý chí thì bản thân sự chống lại ấy cũng là một hình thức của sân.

Sáu điều đoạn trừ sân hận: học cho thuộc về từ tướng, chuyên cần tu tập tâm từ, quán xét về nghiệp là tài sản của mỗi người, suy xét nhiều lần, thân cận bạn lành, và nói những câu chuyện thích hợp.

Điều thứ ba đáng để dừng lại. Quán xét rằng mỗi người là chủ nhân của nghiệp mình, thừa tự nghiệp mình. Người kia làm ác thì người kia mang lấy quả. Tôi khởi sân thì tôi mang lấy quả của tôi. Cơn sân của tôi không trừng phạt được ai ngoài chính tôi.

Đây là thứ tôi cho là liều thuốc mạnh nhất cho người thời nay, khi mà sân hận rất dễ được khoác cho cái áo của công lý.

Thứ ba: Hôn trầm thụy miên

Thức ăn. Đức Phật dạy thức ăn của hôn trầm thụy miên là: sự không hân hoan, sự uể oải, sự ngáp vươn vai, sự uể oải sau khi ăn, sự đình trệ của tâm, cùng với phi như lý tác ý trên đó.

Xin quý vị để ý bài kinh nói rất cụ thể, rất đời thường. Ăn no thì buồn ngủ. Đức Phật không né tránh điều ấy, không thần thánh hóa nó thành nghiệp chướng.

Nhưng điểm mấu chốt vẫn nằm ở phi như lý tác ý. Nghĩa là khi cơn uể oải đến, tâm đồng thuận với nó.

Tâm nói: hôm nay mệt quá, để mai. Tâm nói: ngồi giờ này cũng chẳng vào được đâu. Tâm nói: mình cần nghỉ ngơi cho đủ đã rồi tu mới hiệu quả.

Đó là bữa ăn của hôn trầm. Nó không lớn lên bằng giấc ngủ. Nó lớn lên bằng lời biện hộ.

Và xin quý vị lưu ý chi tiết đầu tiên trong danh sách: sự không hân hoan. Bài kinh đặt nó lên hàng đầu, trước cả sự uể oải thân thể.

Điều ấy nói lên một sự thật sâu sắc: phần lớn cơn lười tu không đến từ mệt mỏi thân xác. Nó đến từ chỗ việc tu đã trở nên khô khốc, nặng nề, không còn chút niềm vui nào. Người ta không bỏ thiền vì thiền khó. Người ta bỏ thiền vì thiền đã thành một nghĩa vụ buồn tẻ.

Xin quý vị nhớ điều này, vì nó sẽ được nối lại ở phần hỷ giác chi.

Cách cắt thức ăn. Kinh Thức Ăn dạy ba thứ: phát cần giới, tinh cần giới, dũng mãnh giới, cùng với như lý tác ý trên chúng.

Ba chữ ấy chỉ ba giai đoạn của tinh tấn: yếu tố khởi sự, yếu tố duy trì, và yếu tố không lùi bước.

Người chỉ có giai đoạn một thì mỗi năm bắt đầu lại từ đầu, đi hết khóa thiền này đến khóa thiền khác mà không bao giờ có nền. Người có một và hai mà thiếu ba thì bỏ cuộc ở đúng chỗ khó nhất, mà chỗ khó nhất thường lại là chỗ ngay trước khi có kết quả.

Trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật dạy Tôn giả Mục Kiền Liên bảy cách rất cụ thể khi buồn ngủ trong lúc hành thiền: đừng tác ý đến đề mục đang khiến mình buồn ngủ; hãy suy nghĩ về pháp đã nghe; hãy tụng lại pháp đã học; hãy kéo hai tai và xoa bóp tay chân; hãy đứng dậy, rửa mắt bằng nước, nhìn ra bốn phương và ngước lên các vì sao; hãy tác ý đến quang tưởng, an trú tưởng ban ngày; hãy đi kinh hành với các căn hướng vào trong, ý không phóng ra ngoài.

Và nếu cả bảy cách đều không được, thì hãy nằm xuống nghỉ, nhưng với chánh niệm tỉnh giác, và ghi nhớ trong tâm sẽ thức dậy.

Quý vị thấy chăng: ngay cả việc nằm nghỉ cũng có cách làm đúng và cách làm sai. Nằm với chánh niệm là thuốc. Nằm với sự buông xuôi là thức ăn cho triền cái.

Sáu điều đoạn trừ hôn trầm: biết tiết độ trong ăn uống, thay đổi oai nghi, tác ý đến quang tưởng, sống nơi trống trải, thân cận bạn lành, và nói những câu chuyện thích hợp.

Thứ tư: Trạo cử hối quá

Thức ăn. Đức Phật dạy thức ăn của trạo cử hối quá là: sự không an tịnh của tâm, cùng với phi như lý tác ý trên đó.

Trạo cử là tâm dao động, chạy nhảy, không đứng yên. Hối quá là sự day dứt, bứt rứt về điều đã làm hoặc điều lẽ ra phải làm mà không làm.

Đây là triền cái của thời đại chúng ta, và tôi phải nói thẳng rằng chúng ta đang sống trong một môi trường được thiết kế rất tinh vi để nuôi nó.

Mỗi thông báo trên điện thoại là một muỗng thức ăn. Mỗi lần mở một ứng dụng chỉ để xem qua một chút là một bữa ăn. Tâm được huấn luyện suốt mười mấy tiếng mỗi ngày để nhảy từ chỗ này sang chỗ khác, được thưởng mỗi lần nó nhảy.

Rồi đến tối chúng ta ngồi xuống chiếu thiền và ngạc nhiên vì nó không chịu đứng yên.

Thưa quý vị, nó không chịu đứng yên vì suốt ngày quý vị đã trả công cho nó để nhảy. Nó đang làm đúng cái việc quý vị đã huấn luyện nó làm.

Còn hối quá thì có một nguồn thức ăn rất riêng, và tôi xin nói rõ vì nó là chỗ nối giữa Giới và Định.

Thức ăn của hối quá là sự phá giới.

Người phạm giới rồi thì đêm nằm xuống tâm không yên. Không phải vì có ai trừng phạt, mà vì chính tâm tự truy đuổi mình. Nó lôi chuyện ấy ra, cất đi, rồi lại lôi ra.

Đó là lý do trong toàn bộ lộ trình tu tập, Giới luôn đứng trước Định. Không phải vì Giới cao quý hơn. Mà vì không có Giới thì Định không có chỗ để đứng. Đức Phật dạy rằng người có giới hạnh trong sạch thì không hối hận, do không hối hận nên hân hoan, do hân hoan nên hỷ sinh, do hỷ nên thân khinh an, do khinh an nên cảm thọ lạc, do lạc nên tâm được định.

Cả chuỗi ấy bắt đầu từ chỗ đêm nằm xuống mà không có gì để hối tiếc.

Cách cắt thức ăn. Kinh Thức Ăn dạy: có sự an tịnh của tâm, cùng với như lý tác ý trên đó.

Nghĩa là tập cho tâm biết mùi vị của sự yên. Mỗi lần quý vị ngồi yên được mười lăm phút, quý vị đang dạy cho tâm rằng yên tĩnh cũng là một thứ dễ chịu. Tâm sẽ dần quen, và dần bớt đòi nhảy.

Sáu điều đoạn trừ trạo cử hối quá: học nhiều nghe nhiều, hỏi han thưa thỉnh, thông thuộc giới luật, thân cận các bậc trưởng lão, thân cận bạn lành, và nói những câu chuyện thích hợp.

Xin để ý điều thứ ba: thông thuộc giới luật. Người biết rõ điều gì nên làm và điều gì không nên làm thì tâm bớt bứt rứt, vì không còn phải phân vân. Rất nhiều sự day dứt của chúng ta chỉ đơn giản là hậu quả của việc không biết rõ.

Thứ năm: Hoài nghi

Thức ăn. Đức Phật dạy thức ăn của hoài nghi là: có những pháp làm chỗ y cứ cho hoài nghi, và ở đây, phi như lý tác ý được làm cho sung mãn.

Hoài nghi là triền cái mà người thời nay hay tự hào. Người ta gọi nó là tư duy phản biện, là không mê tín, là sáng suốt, là không dễ bị dắt mũi.

Xin quý vị phân biệt cho thật rõ, vì chỗ này rất tinh tế và rất dễ tự lừa mình.

Có một loại nghi là hỏi. Người hỏi thì đi tìm câu trả lời. Tìm được rồi thì thử nghiệm, thực hành, kiểm chứng. Loại nghi này là bạn của đạo. Chính Đức Phật khuyến khích nó trong Kinh Kālāma, và chính Ngài mời gọi người ta điều tra cả chính Ngài trong Kinh Tư Sát.

Có một loại nghi là lơ lửng. Người ấy không đi tìm gì cả. Người ấy chỉ giữ mọi thứ ở trạng thái chưa chắc chắn, để khỏi phải làm gì. Nghiệp có thật không, có kiếp sau không, thiền có tác dụng không, mình có căn cơ không, pháp môn nào mới đúng, vị thầy nào mới thật…vv

Hỏi mãi. Bàn mãi. Và không bao giờ ngồi xuống.

Loại thứ hai là triền cái. Thức ăn của nó là việc tâm cứ xoay quanh những câu hỏi ấy mà không bao giờ bước sang hành động. Và nó rất dễ chịu, vì chừng nào còn chưa chắc chắn thì chừng ấy còn chưa phải thay đổi gì trong đời sống.

Cách cắt thức ăn. Kinh Thức Ăn dạy: có các pháp thiện và bất thiện, các pháp có tội và không có tội, các pháp cao thượng và hạ liệt, các pháp thuộc phần đen và phần trắng, cùng với như lý tác ý trên chúng.

Nghĩa là gì? Nghĩa là hãy học cho phân minh cái gì là thiện, cái gì là bất thiện. Hãy đọc kinh cho đúng nguồn. Hãy hỏi người có kinh nghiệm. Hãy tự mình thực hành để kiểm chứng trên chính thân tâm mình.

Hoài nghi không chết vì đức tin. Nó chết vì sự hiểu biết rõ ràng.

Sáu điều đoạn trừ hoài nghi: học nhiều nghe nhiều, hỏi han thưa thỉnh, thông thuộc giới luật, có nhiều thắng giải, thân cận bạn lành, và nói những câu chuyện thích hợp.

Thân cận bạn lành. Và nói những câu chuyện thích hợp.

Tôi cho rằng đây là một trong những chi tiết đáng suy ngẫm nhất.

Vì nó cho thấy: tâm không ăn một mình. Phần lớn thức ăn của nó đến từ những người quanh nó và những câu chuyện nó nghe mỗi ngày.

Một người ngồi giữa những người bàn chuyện hơn thua thì tâm người ấy được cho ăn chuyện hơn thua. Một người mỗi ngày nghe những câu chuyện kích động thì tâm người ấy được cho ăn sự kích động. Không cần người ấy đồng ý. Chỉ cần người ấy có mặt.

Và đây là lý do vì sao trong Tương Ưng Bộ, khi Tôn giả Ānanda thưa rằng thân cận bạn lành là một nửa đời sống phạm hạnh, Đức Phật đã sửa lại: chớ nói vậy, thân cận bạn lành là toàn bộ đời sống phạm hạnh.

Xin quý vị nhìn lại một tuần vừa qua của mình. Những người quý vị dành nhiều thời gian nhất với họ. Những nội dung quý vị đọc nhiều nhất. Những câu chuyện quý vị tham gia sôi nổi nhất.

Đó là thực đơn thật sự của tâm quý vị. Ba mươi phút ngồi thiền chỉ là một bữa phụ.

🟥 PHẦN BA: BẢY GIÁC CHI VÀ MÓN ĂN CỦA CHÚNG

Đến đây bài kinh đổi chiều, và đây là phần mà tôi cho là đẹp nhất.

Nếu phần trên cho thấy phiền não lớn lên như thế nào, thì phần này cho thấy tuệ giác lớn lên như thế nào. Và quý vị sẽ thấy một điều: bảy giác chi không phải bảy thứ rời rạc. Chúng là một chuỗi, cái trước nuôi cái sau, và cái cuối cùng là hoa trái của cả sáu cái trước.

Trước khi đi vào, tôi xin nêu một điểm rất quan trọng về cấu trúc của bài kinh.

Đối với năm triền cái, Kinh Thức Ăn nêu hai món khác nhau: một món nuôi, một món diệt. Tịnh tướng nuôi tham, bất tịnh tướng diệt tham. Hai thứ đối nghịch.

Nhưng đối với bảy giác chi thì khác. Bài kinh nêu món nuôi, rồi nói rằng cái làm giác chi chưa sinh không sinh và đã sinh không tăng trưởng, chính là không tác ý nhiều lần đến những pháp ấy.

Xin quý vị nghe cho kỹ sự khác biệt này, vì nó nói lên một sự thật lạnh người.

Phiền não cần một đối thủ mới chết. Nhưng tuệ giác chỉ cần bị bỏ quên là đủ chết.

Không ai phải ra tay tiêu diệt chánh niệm của quý vị. Chỉ cần quý vị không cho nó ăn trong ba tháng, nó tự tàn.

Đó là lý do vì sao lời cuối cùng của Đức Phật, sau bốn mươi lăm năm, là: các hành đều bị hoại diệt, hãy tinh tấn chớ có phóng dật.

Không phải hãy chiến đấu. Mà là chớ có phóng dật. Chớ có quên cho ăn.

Giác chi thứ nhất: Niệm

Thức ăn. Đức Phật dạy: có những pháp làm chỗ y cứ cho niệm giác chi, và ở đây, như lý tác ý được làm cho sung mãn.

Những pháp làm chỗ y cứ ấy chính là bốn niệm xứ: thân, thọ, tâm, pháp.

Nghĩa là gì? Nghĩa là chánh niệm không lớn lên bằng cách quý vị mong nó lớn, cũng không lớn lên bằng cách quý vị đọc thêm sách về chánh niệm.

Nó lớn lên bằng cách quý vị đưa cho nó một đối tượng, lặp đi lặp lại, ngày này qua ngày khác.

Hơi thở vào, biết. Hơi thở ra, biết. Bước chân giở lên, biết. Cảm giác khó chịu sinh khởi, biết. Tâm đang có sân, biết là tâm đang có sân.

Mỗi một lần ghi nhận là một muỗng thức ăn.

Và xin quý vị nhớ một điều đặc biệt về giác chi này. Trong Kinh Lửa thuộc cùng Tương Ưng Giác Chi, Đức Phật dạy rằng khi tâm đang uể oải thì không phải lúc tu ba giác chi khinh an, định, xả, vì tâm đã trầm rồi mà còn làm cho lắng thêm thì khó phấn chấn trở lại, như người muốn nhóm một ngọn lửa nhỏ mà lại chất cỏ ướt và rưới nước lên. Ngược lại khi tâm đang dao động thì không phải lúc tu ba giác chi trạch pháp, tinh tấn, hỷ, vì tâm đã động rồi mà còn thêm sức thì khó lắng xuống, như người muốn dập một đống lửa lớn mà lại bỏ thêm cỏ khô vào.

Nhưng riêng niệm thì Ngài dạy rằng nó lợi ích trong mọi trường hợp.

Sáu giác chi kia có lúc nên, có lúc không nên. Chánh niệm thì không bao giờ thừa, không bao giờ sai thời.

Đó là lý do nó đứng đầu. Nó là người gác cổng, và cổng thì không bao giờ được bỏ trống.

Giác chi thứ hai: Trạch pháp

Thức ăn. Đức Phật dạy thức ăn của trạch pháp là: các pháp thiện và bất thiện, các pháp có tội và không có tội, các pháp cao thượng và hạ liệt, các pháp thuộc phần đen và phần trắng, cùng với như lý tác ý trên chúng.

Thưa quý vị, quý vị có nhận ra điều gì không?

Đây chính xác là món ăn đã được nêu ở phần đoạn trừ hoài nghi.

Bài kinh dùng đúng cùng một cụm từ, không đổi một chữ. Đó không phải là sự trùng lặp vô tình của người kết tập. Đó là một giáo lý.

Nó cho thấy rằng cùng một món ăn đưa vào thì hai việc xảy ra cùng lúc: hoài nghi chết đói, và trạch pháp lớn lên.

Trạch pháp là khả năng phân biệt cho ra: cái đang khởi lên trong tâm tôi lúc này là thiện hay bất thiện? Là tín hay là tham? Là tinh tấn hay là trạo cử? Là bi mẫn hay là ưu sầu? Là xả hay là si?

Đây là giác chi của trí tuệ, và nó là bản lề của cả bảy.

Vì nếu không phân biệt được, người ta sẽ nuôi nhầm. Tưởng đang tu tinh tấn mà thật ra đang nuôi trạo cử. Tưởng đang tu xả mà thật ra đang nuôi si. Tưởng đang bảo vệ chánh pháp mà thật ra đang nuôi sân.

Và điều đáng sợ là người nuôi nhầm không hề biết mình nuôi nhầm. Họ vẫn tin chắc rằng mình đang tu.

Giác chi thứ ba: Tinh tấn

Thức ăn. Đức Phật dạy thức ăn của tinh tấn giác chi là: phát cần giới, tinh cần giới, dũng mãnh giới, cùng với như lý tác ý trên chúng.

Lại một lần nữa, thưa quý vị: đây chính xác là món ăn đã nêu ở phần đoạn trừ hôn trầm.

Cùng một món. Hôn trầm chết đói, tinh tấn lớn lên.

Khởi sự, duy trì, không lùi. Ba giai đoạn ấy phải đủ cả ba, thiếu một là hỏng.

Giác chi thứ tư: Hỷ

Thức ăn. Đức Phật dạy: có những pháp làm chỗ y cứ cho hỷ giác chi, và ở đây, như lý tác ý được làm cho sung mãn.

Hỷ ở đây không phải niềm vui theo nghĩa thế gian, không phải sự thỏa mãn dục lạc. Nó là niềm hân hoan trong sạch sinh ra từ chính sự tu tập, thứ mà Đức Phật gọi là hỷ không liên hệ đến vật chất.

Nó đến từ đâu? Từ việc thấy mình có giới trong sạch nên đêm ngủ không hối hận. Từ việc thấy tâm mình hôm nay bớt loạn hơn tháng trước. Từ việc tùy niệm ân đức Phật, ân đức Pháp, ân đức Tăng. Từ việc nhớ lại một việc thiện mình đã làm mà không ai biết…

Xin quý vị đừng coi thường giác chi này, và tôi xin nói kỹ vì đây là chỗ nhiều người tu nghiêm túc lại hỏng.

Có nhiều người giữ giới rất chặt, ngồi thiền rất đều, mà mấy năm không tiến. Đời tu của họ khô khốc, nặng nề, đầy tự trách, lúc nào cũng thấy mình chưa đủ. Họ nghĩ rằng đạo Phật là như vậy, rằng thấy khổ thì phải u ám.

Họ đang thiếu thức ăn cho hỷ. Và xin quý vị nhớ lại phần hôn trầm: món đầu tiên trong danh sách thức ăn của hôn trầm chính là sự không hân hoan.

Nghĩa là đời tu khô khốc không chỉ khó chịu. Nó đang trực tiếp nuôi một triền cái.

Trong Tương Ưng Nhân Duyên, Đức Phật dạy một chuỗi nhân duyên đưa đến giải thoát, trong đó hỷ là một mắt xích bắt buộc: do có tín nên có hân hoan, do hân hoan nên có hỷ, do hỷ nên thân khinh an, do khinh an nên cảm thọ lạc, do lạc nên tâm được định, do định nên có tri kiến như thật, do tri kiến như thật nên nhàm chán, do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát.

Không có hỷ thì chuỗi đứt ngay ở mắt xích thứ ba, và mọi thứ phía sau không bao giờ đến.

Đạo Phật không phải là một sự hành xác. Đức Thế Tôn đã thử hành xác sáu năm và Ngài đã bỏ. Ngài kể rằng chính khi nhớ lại một niềm an lạc trong sạch thuở nhỏ khi ngồi Thiền dưới gốc cây, Ngài mới tự hỏi: vì sao ta lại sợ thứ an lạc không liên hệ gì đến dục ấy? Và Ngài đã đi con đường ấy để đến giác ngộ.

Giác chi thứ năm: Khinh an

Thức ăn. Đức Phật dạy: có thân khinh an và tâm khinh an, và ở đây, như lý tác ý được làm cho sung mãn.

Khinh an là sự lắng dịu, nhẹ nhàng, hết căng thẳng, hết cứng nhắc.

Xin để ý thứ tự trong chuỗi bảy giác chi: hỷ đến trước, khinh an đến sau.

Điều đó nói lên một quy luật rất thực tế: niềm hân hoan trong sạch làm cho thân tâm tự lắng xuống. Đây không phải thứ ép được. Quý vị không thể ra lệnh cho mình phải thư giãn, càng ra lệnh càng căng. Nhưng khi hỷ có mặt thì khinh an tự đến mà không cần mời.

Giác chi thứ sáu: Định

Thức ăn. Đức Phật dạy: có tịnh chỉ tướng, có bất loạn tướng, và ở đây, như lý tác ý được làm cho sung mãn.

Và lại một lần nữa: đây chính là món ăn đã nêu ở phần đoạn trừ trạo cử – sự an tịnh của tâm.

Cùng một món. Trạo cử chết đói, định lớn lên.

Giác chi thứ bảy: Xả

Thức ăn. Đức Phật dạy: có những pháp làm chỗ y cứ cho xả giác chi, và ở đây, như lý tác ý được làm cho sung mãn.

Xả là sự quân bình. Không nghiêng về ưa, không nghiêng về ghét. Tâm đứng giữa và nhìn.

Đây là giác chi cuối cùng, và nó là hoa trái của sáu cái trước. Không ai tu xả bằng cách cố tỏ ra bình thản. Đó là đè nén, và đè nén thì có ngày bật ra. Xả thật sự chỉ đến khi tâm đã thấy đủ rõ để không còn gì đáng bám và không còn gì đáng xua.

Và bây giờ tôi xin nói một điều mà tôi mong quý vị khắc vào tâm, vì đây là chỗ nhầm lẫn nguy hiểm nhất trong toàn bộ đời sống tu tập:

Xả không phải là dửng dưng.

Dửng dưng là si. Nó là một trạng thái bất thiện. Nó là sự không biết gì cả, sự trơ ra, sự mặc kệ.

Xả là một trạng thái thiện. Nó là tâm sở trung tánh, một trong các tâm sở tịnh hảo, và nó chỉ có mặt trong tâm thiện. Nó là sự biết rất rõ mà không dao động.

Hai thứ ấy nhìn từ bên ngoài giống hệt nhau. Người dửng dưng và người có xả đều ngồi yên, đều không phản ứng, đều có vẻ bình thản.

Nhưng một thứ là bùn và một thứ là kim cương.

Và thưa quý vị, chỉ có trạch pháp giác chi mới phân biệt được chúng. Không có trạch pháp thì người ta có thể nuôi cái si suốt hai mươi năm và tưởng mình đang tu xả.

🟥 PHẦN BỐN: NHỮNG GÌ BÀI KINH KHÔNG NÓI THẲNG

Thưa quý vị, bây giờ tôi xin trình bày những điều bài kinh hàm ý mà không nói thẳng ra. Đây là phần tôi mong quý vị đọc chậm nhất.

Điều thứ nhất: kẻ thù không phải là đối tượng, mà là cách chú ý

Xin quý vị nhìn lại toàn bộ mười hai mục trên. Cụm từ tác ý xuất hiện trong từng mục, không sót một mục nào. Phi như lý tác ý nuôi triền cái. Như lý tác ý nuôi giác chi.

Điều đó có nghĩa gì?

Có nghĩa là đối tượng bên ngoài không phải là vấn đề. Thế gian vẫn có cái đẹp, vẫn có cái đáng ghét, vẫn có cái gây buồn ngủ, vẫn có cái đáng ngờ. Quý vị không thể dọn sạch thế gian. Chưa ai làm được, kể cả những người đã vào rừng sâu.

Cái quyết định là tâm quý vị dừng lại ở khía cạnh nào, và dừng bao lâu.

Đây là tin cực kỳ tốt. Vì nếu vấn đề nằm ở thế gian thì chúng ta vô phương, phải chờ thế gian đổi. Nhưng vấn đề nằm ở cách chú ý, mà cách chú ý thì có thể huấn luyện được, ngay hôm nay, ngay trong hoàn cảnh hiện tại của quý vị, không cần đổi nhà, đổi việc, đổi người.

Và đây cũng là lý do vì sao Đức Phật dạy trong Tăng Chi Bộ rằng Ngài không thấy một pháp nào khác khiến các pháp bất thiện chưa sinh được sinh khởi và các pháp thiện đã sinh bị thối thất cho bằng phi như lý tác ý. Và ngược lại, không có pháp nào khiến các pháp thiện chưa sinh được sinh khởi cho bằng như lý tác ý.

Toàn bộ đời tu, nói cho cùng, là cuộc huấn luyện một thứ duy nhất: tâm sẽ dừng lại ở đâu.

Điều thứ hai: ba món ăn dùng chung, và ý nghĩa của nó

Quý vị đã thấy ba lần trùng khớp, và tôi xin gom lại đây cho rõ:

Sự an tịnh của tâm vừa làm trạo cử chết đói, vừa nuôi định giác chi.

Ba yếu tố tinh tấn vừa làm hôn trầm chết đói, vừa nuôi tinh tấn giác chi.

Sự phân biệt thiện ác, có tội không tội, cao thượng hạ liệt, đen trắng vừa làm hoài nghi chết đói, vừa nuôi trạch pháp giác chi.

Điều này cho thấy một sự thật đẹp đẽ và rất thực dụng: trong đạo Phật, việc dứt trừ cái xấu và việc nuôi lớn cái tốt thường không phải hai việc, mà là một việc.

Quý vị không phải làm hai công đoạn. Không phải trước tiên dành mười năm diệt trừ phiền não rồi sau đó mới bắt đầu tu tuệ. Cùng một hành động, làm cho đúng, thì hai việc xảy ra cùng một lúc.

Đây chính là ý nghĩa của Tứ Chánh Cần, mà Đức Phật dạy như bốn mặt của một nỗ lực duy nhất: ngăn ác chưa sinh, diệt ác đã sinh, sinh thiện chưa sinh, tăng trưởng thiện đã sinh. Bốn điều ấy không phải bốn thời khóa khác nhau. Chúng xảy ra trong cùng một sát na ghi nhận.

Điều thứ ba: tâm chỉ ăn được một món một lần

Trong một sát-na tâm, không thể vừa có tham vừa có định. Không thể vừa có sân vừa có từ. Không thể vừa có hoài nghi vừa có trạch pháp. Các tâm sở bất thiện và các tâm sở tịnh hảo không bao giờ đồng sinh trong cùng một tâm.

Nghĩa là gì?

Nghĩa là mỗi sát-na quý vị đều đang bỏ phiếu.

Mỗi sát-na tâm ghi nhận là một phiếu cho giác chi. Mỗi sát-na tâm trôi theo dòng suy nghĩ về cái dễ ưa hay cái đáng ghét là một phiếu cho triền cái.

Không có sát-na trung lập. Không có giờ nghỉ. Không có khoảng thời gian nào trong ngày mà quý vị không đang nuôi một trong hai bên.

Và đời tu của một người, xét đến cùng, chỉ là tổng số phiếu ấy.

Điều thứ tư, và là điều quan trọng nhất

Xin quý vị nhìn lại câu hỏi mà người tu nào cũng có lúc hỏi: tại sao tôi tu mãi mà không tiến?

Bài kinh này trả lời, và câu trả lời không có một chữ trách móc nào:

Vì mỗi ngày quý vị dành mười sáu tiếng cho triền cái ăn, và ba mươi phút cho giác chi ăn.

Mười sáu tiếng tâm chạy theo cái dễ ưa, diễn lại cái khó chịu, đồng thuận với cơn uể oải, nhảy từ màn hình này sang màn hình khác, và giữ mọi thứ ở trạng thái lơ lửng chưa chắc chắn.

Ba mươi phút ngồi xuống chiếu, mà một nửa số đó cũng đang làm y hệt như trên, chỉ khác là ngồi yên.

Rồi chúng ta ngạc nhiên vì sao con quái vật thì béo tốt còn đứa bé thì gầy còm.

Thưa quý vị, nó không phải là nghiệp. Không phải căn cơ. Không phải thời mạt pháp. Không phải vì quý vị chưa gặp đúng thầy hay chưa tìm ra đúng pháp môn.

Nó là bảng thực đơn.

🟥 PHẦN NĂM: MANG BÀI KINH NÀY VÀO ĐỜI SỐNG

Tôi xin đề nghị quý vị làm một việc rất đơn giản, và làm trong đúng một tuần. Không cần thêm giờ ngồi thiền. Không cần đi đâu. Không tốn một đồng nào.

Mỗi tối trước khi ngủ, hãy hỏi mình hai câu.

Câu thứ nhất: hôm nay tôi đã cho cái gì ăn?

Không phán xét. Không tự trách, vì tự trách chỉ nuôi hối quá. Chỉ đếm.

Hôm nay tôi đã bao nhiêu lần quay lại với một hình ảnh dễ ưa? Bao nhiêu lần diễn lại một câu nói khó chịu trong đầu? Bao nhiêu lần đồng thuận với cơn lười bằng một lời biện hộ nghe rất hợp lý? Bao nhiêu giờ để tâm nhảy loạn từ chỗ này sang chỗ khác? Bao nhiêu lần đặt một câu hỏi mà không hề đi tìm câu trả lời?

Câu thứ hai: hôm nay tôi đã cho giác chi ăn mấy bữa?

Tôi đã ghi nhận được bao nhiêu lần trong ngày, ngoài giờ ngồi thiền? Có lần nào tôi thấy rõ một tâm bất thiện đang khởi và gọi đúng tên nó không? Có khoảnh khắc nào tôi hân hoan trong sạch, không vì được gì cả, chỉ vì thấy mình đang đi đúng? Có lúc nào tâm tôi thật sự lắng xuống, dù chỉ vài hơi thở?

Chỉ hai câu ấy. Một tuần thôi.

Quý vị sẽ khám phá ra tỷ lệ thật sự của đời mình. Và chính cái tỷ lệ ấy, chứ không phải điều gì khác, đang quyết định quý vị sẽ đi về đâu.

🟥 LỜI KẾT

Thưa quý vị,

Bài kinh khép lại bằng chính hình ảnh đã mở ra. Thân này sống nhờ thức ăn. Năm triền cái sống nhờ thức ăn. Bảy giác chi sống nhờ thức ăn.

Không có gì trong tam giới này tự mọc lên từ hư không. Mọi thứ đang tồn tại đều đang được nuôi bởi một cái gì đó, và dừng nuôi thì nó dừng lại.

Điều ấy nghe qua thì lạnh lùng. Nhưng tôi xin thưa rằng đó là lời khích lệ lớn nhất mà tôi biết trong toàn bộ Kinh tạng.

Vì nếu phiền não của quý vị tự nhiên mà có, là bản chất, là số phận, thì quý vị hoàn toàn vô phương. Nhưng nó được nuôi. Và cái gì được nuôi thì có thể bị bỏ đói.

Và nếu tuệ giác là món quà chỉ ban cho vài người có phước đặc biệt, thì phần lớn chúng ta hết hy vọng ngay từ đầu. Nhưng nó cũng chỉ là một thứ cần được nuôi. Và cái gì cần được nuôi thì bất cứ ai chịu cho nó ăn đều nuôi được.

Không ai trong chúng ta phải chiến đấu với phiền não bằng sức mạnh. Chúng ta chỉ cần ngừng đưa thức ăn lên miệng nó.

Không ai trong chúng ta phải cầu xin ai ban cho trí tuệ. Chúng ta chỉ cần bắt đầu cho nó ăn, mỗi ngày một ít, và đừng bỏ bữa.

Con vật nào được cho ăn thì con vật ấy lớn.

Câu ấy đúng với thân. Đúng với tâm. Đúng với toàn bộ số kiếp còn lại của quý vị.

Vậy từ hôm nay, xin quý vị hãy chọn cho kỹ mình sẽ đút cho ai.

Nguyện cho quý vị nhận ra mình đang nuôi cái gì.

Nguyện cho quý vị đủ can đảm để bỏ đói cái cần bỏ đói.

Nguyện cho bảy giác chi nơi quý vị được tu tập, được làm cho sung mãn, và đưa đến minh và giải thoát.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.

Sādhu! Sādhu! Sādhu!

– Khải Tuệ Quang –

Website: Khaituequang.com / Khaituequang.org

You may also like

Comment