– Biên Soạn : Khải Tuệ Quang –
Kính thưa quý vị,
Kinh Hạnh Phúc (Sutta Nipāta 2.4) kể lại rằng vào một đêm tại tinh xá Jetavana, có một vị thiên với dung sắc thù thắng chiếu sáng khắp khu rừng đến đảnh lễ Đức Thế Tôn và thưa hỏi Ngài về những phúc lành cao thượng. Trong lời đáp của Đức Phật có một câu kệ mà tôi muốn cùng quý vị chiêm nghiệm hôm nay:
Gāravo ca nivāto ca, santuṭṭhi ca kataññutā,
kālena dhammassavanaṃ, etaṃ maṅgalamuttamaṃ.Tôn kính và khiêm cung, biết đủ và biết ơn, đúng thời nghe Pháp, là phúc lành tối thượng.
Hãy suy gẫm về cách câu kệ này được sắp đặt. Việc nghe Pháp không đứng một mình mà đi sau tôn kính, khiêm cung, biết đủ và biết ơn. Người thiếu lòng tôn kính thì nghe mà không tiếp nhận. Người đầy ngã mạn thì nghe mà chỉ để phán xét. Người không biết đủ thì tâm còn mải chạy theo trần cảnh, chẳng còn chỗ cho Pháp đi vào. Người không biết ơn thì không thấy được giá trị của giáo pháp mà chư Tăng đã gìn giữ suốt hơn hai mươi lăm thế kỷ. Bởi vậy, trước khi nói đến lợi ích của việc nghe Pháp, xin quý vị hãy nhớ rằng lỗ tai chỉ là cửa ngõ, còn cái tâm mở cửa ấy mới là điều quyết định.
🟥 TIẾNG NÓI TỪ NGƯỜI KHÁC, DUYÊN ĐẦU TIÊN CỦA CHÁNH KIẾN
Trong Đại Kinh Phương Quảng (Trung Bộ 43), Tôn giả Mahākoṭṭhita hỏi Tôn giả Sāriputta rằng có bao nhiêu duyên để Chánh Kiến sinh khởi. Tôn giả Sāriputta đáp có hai duyên, đó là tiếng nói từ người khác và tác ý đúng đắn.
Chánh Kiến là chi phần đứng đầu của Bát Thánh Đạo, là con mắt dẫn đường cho bảy chi phần còn lại. Vậy mà một trong hai duyên để Chánh Kiến có mặt lại là âm thanh của Chánh Pháp đến từ bên ngoài. Ngoại trừ chư Phật Toàn Giác và chư Phật Độc Giác tự mình giác ngộ không cần thầy chỉ dạy, tất cả chúng sinh còn lại đều phải nhờ nghe Pháp mới có thể bước vào con đường giải thoát. Điều ấy đúng với phàm phu, và cũng từng đúng với chính các bậc Đại Thánh Thinh Văn.
Luật Tạng, phẩm Đại Phẩm, ghi lại rằng khi còn là du sĩ Upatissa, Tôn giả Sāriputta gặp Tôn giả Assaji đang đi khất thực trong thành Rājagaha với oai nghi an tịnh. Ngài theo sau, chờ vị Tỳ-khưu thọ thực xong mới đến thưa hỏi về giáo lý của bậc Đạo Sư. Tôn giả Assaji khiêm tốn nói rằng mình mới xuất gia chưa lâu, không thể thuyết giảng rộng rãi, chỉ có thể nói tóm tắt ý nghĩa. Upatissa thưa rằng xin Ngài cứ nói ít hay nhiều tùy ý, điều con cần chỉ là ý nghĩa. Tôn giả Assaji liền nói bài kệ:
Ye dhammā hetuppabhavā, tesaṃ hetuṃ tathāgato āha,
tesañca yo nirodho, evaṃvādī mahāsamaṇo.Các pháp do nhân sinh, Như Lai đã chỉ rõ nhân của chúng, và sự đoạn diệt của chúng. Bậc Đại Sa-môn thuyết giảng như vậy.
Nghe xong bài kệ, Pháp nhãn xa lìa trần cấu khởi lên nơi Upatissa, với tri kiến rằng phàm cái gì có tánh chất sinh khởi, tất cả đều có tánh chất đoạn diệt. Ngài trở về thuật lại cho người bạn Kolita, tức Tôn giả Mahāmoggallāna sau này, và chính Kolita cũng chứng đắc ngay khi được nghe lại bài kệ ấy. Hai vị Thượng Thủ Thinh Văn của Đức Phật đều bước vào dòng Thánh nhờ lắng nghe. Không có tiếng nói từ người khác, đã không có vị Đại Tướng Quân Chánh Pháp.
Trong kinh Phúng Tụng (Trường Bộ 33), Đức Phật nói đến ba loại trí tuệ: tuệ do tư duy, tuệ do nghe học và tuệ do tu tập. Tuệ do nghe học là chất liệu cho tư duy đúng hướng, và tư duy đúng hướng lại là chất liệu cho sự tu tập. Người không nghe Pháp thì tư duy dễ đi lạc vào kiến chấp của chính mình, còn sự tu tập dễ trở thành những nỗ lực mù quáng.
🟥 NĂM LỢI ÍCH MÀ ĐỨC THẾ TÔN ĐÃ CHỈ RÕ
Trong Tăng Chi Bộ, chương Năm Pháp (AN 5.202), Đức Phật dạy rằng việc nghe Pháp có năm lợi ích:
Assutaṃ suṇāti, sutaṃ pariyodāpeti, kaṅkhaṃ vitarati, diṭṭhiṃ ujuṃ karoti, cittamassa pasīdati.
Được nghe điều chưa từng nghe. Làm cho trong sáng điều đã nghe. Vượt qua hoài nghi. Làm cho kiến giải được ngay thẳng. Tâm trở nên tịnh tín.
Lợi ích thứ nhất dễ hiểu. Giáo pháp của Đức Thế Tôn rộng lớn đến mức cả một đời người cũng không nghe hết, nên mỗi lần nghe là mỗi lần tiếp nhận thêm một phần gia tài mà bậc Đạo Sư để lại.
Lợi ích thứ hai sâu kín hơn, và theo tôi, đây chính là lý do then chốt của việc nghe Pháp mỗi ngày. Có những lời dạy quý vị đã nghe từ thuở mới quy y, tưởng như đã thuộc lòng, nhưng khi nghe lại vào một lúc khác trong đời, sau một lần mất mát, một cơn bệnh, hay một thời gian hành thiền, bỗng thấy ý nghĩa ấy sâu hơn nhiều so với mình từng nghĩ. Lời dạy không thay đổi. Chính người nghe đã thay đổi. Hiểu biết cũ nhờ vậy được gột rửa những chỗ mơ hồ, được làm cho trong sáng.
Lợi ích thứ ba là vượt qua hoài nghi. Hoài nghi ở đây là sự phân vân về Phật, Pháp, Tăng, về giới học, về quá khứ và vị lai, về lý duyên khởi. Đó là một trong năm triền cái ngăn che tâm, và là một trong ba kiết sử mà bậc Dự Lưu đã đoạn tận. Người còn hoài nghi thì không thể tinh tấn trọn vẹn, vì chẳng ai dốc hết sức mình cho một con đường mà mình chưa tin chắc.
Lợi ích thứ tư là làm cho kiến giải được ngay thẳng. Đời sống thế gian mỗi ngày gieo vào tâm chúng ta biết bao quan niệm lệch lạc: cho rằng hạnh phúc nằm ở sự hưởng thụ, cho rằng có một cái ta thường còn làm chủ thân tâm, cho rằng việc làm thiện ác không có quả báo. Những quan niệm ấy không đến một lần rồi thôi, chúng thấm vào từng ngày. Vì vậy, sự uốn nắn kiến giải cũng cần diễn ra từng ngày.
Lợi ích thứ năm là tâm trở nên tịnh tín. Trong Pāli, chữ pasīdati mang hai tầng nghĩa gắn liền nhau: tâm lắng trong và tâm khởi niềm tin. Cũng như nước đục khi lặng thì cặn lắng xuống và nước trở nên trong, tâm khi được Pháp làm cho lắng dịu thì niềm tin nơi Tam Bảo tự nhiên hiện rõ.
Năm lợi ích này đi theo một trình tự rất tự nhiên, từ tiếp nhận hiểu biết mới, đến tinh luyện hiểu biết cũ, đến gỡ bỏ phân vân, đến chuyển hóa cách nhìn, và cuối cùng là sự an tịnh trong tâm.
🟥 TỪ SỰ LẮNG NGHE ĐẾN CHÂN LÝ TỐI THƯỢNG
Có người sẽ đặt câu hỏi rằng nghe chỉ là một hoạt động của nhĩ thức, làm sao có thể dẫn đến giải thoát. Đức Phật đã trả lời điều này rất tỉ mỉ trong kinh Caṅkī (Trung Bộ 95) khi Ngài dạy cho thanh niên Bà-la-môn Kāpaṭika Bhāradvāja.
Trước hết, Ngài dạy rằng người đi tìm chân lý phải quan sát vị thầy của mình, xem vị ấy có còn những pháp liên hệ đến tham, sân, si hay không, xem vị ấy có vì tham mà nói không biết là biết, không thấy là thấy, hay khuyến khích người khác làm điều không đưa đến lợi ích lâu dài hay không. Chỉ khi thấy rõ vị ấy thanh tịnh đối với những pháp ấy, người ấy mới đặt niềm tin. Như vậy, việc nghe Pháp không hề là sự tin theo mù quáng.
Rồi Đức Phật dạy tiến trình tiếp theo. Có niềm tin thì đến gần. Đến gần thì thân cận. Thân cận thì lắng tai. Lắng tai thì nghe Pháp. Nghe Pháp thì ghi nhớ. Ghi nhớ thì quán sát ý nghĩa. Quán sát ý nghĩa thì các pháp được chấp nhận qua sự suy xét. Khi các pháp được chấp nhận qua suy xét thì ước muốn sinh khởi. Có ước muốn thì nỗ lực. Nỗ lực thì cân nhắc. Cân nhắc thì tinh cần. Tinh cần thì tự thân chứng ngộ chân lý tối thượng và thấy rõ chân lý ấy bằng trí tuệ.
Điều đáng lưu tâm nhất trong bài kinh này là Đức Phật phân biệt giữa sự giác ngộ chân lý và sự thành tựu viên mãn chân lý. Ngài dạy rằng sự thành tựu viên mãn chân lý có được nhờ sự thực hành, tu tập và làm cho sung mãn chính những pháp ấy. Thưa quý vị, đây chính là nền tảng kinh điển cho hai chữ mỗi ngày. Nghe một lần, hiểu một lần chưa phải là đích đến. Chính sự lặp lại, sự tu tập bền bỉ, sự làm cho sung mãn mới đưa người hành giả đến chỗ viên mãn.
🟥 GIẢI THOÁT CÓ THỂ KHỞI LÊN NGAY TRONG LÚC NGHE
Trong kinh Giải Thoát Xứ (Tăng Chi Bộ, AN 5.26), Đức Phật dạy có năm cơ hội mà một vị Tỳ-khưu sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần có thể giải thoát tâm chưa được giải thoát, đoạn tận lậu hoặc chưa được đoạn tận, chứng đạt sự an ổn vô thượng chưa được chứng đạt. Năm cơ hội ấy là khi nghe Pháp từ bậc Đạo Sư hay từ vị đồng phạm hạnh đáng tôn kính, khi thuyết Pháp cho người khác, khi tụng đọc Pháp, khi suy tư quán sát Pháp, và khi khéo nắm giữ tướng định.
Đối với cơ hội thứ nhất, Đức Phật mô tả rằng khi vị ấy được nghe Pháp và thấu hiểu cả ý nghĩa lẫn giáo pháp, thì hân hoan sinh khởi. Do hân hoan nên hỷ sinh. Do tâm có hỷ nên thân được khinh an. Thân khinh an thì cảm nhận an lạc. Người có an lạc thì tâm được định tĩnh.
Quý vị thấy rằng đây chính là tiến trình của các chi phần giác ngộ đang vận hành. Một thời Pháp được lắng nghe với tâm chuyên chú không chỉ là một buổi học hỏi. Nếu người nghe thực sự thấu hiểu, đó là một thời tu tập mà định và tuệ có thể cùng lúc được nuôi dưỡng.
🟥 NGHE CHÁNH PHÁP, MỘT CHI PHẦN CỦA DÒNG THÁNH
Trong Tương Ưng Bộ (SN 55.5), Đức Phật hỏi Tôn giả Sāriputta về các chi phần đưa đến quả Dự Lưu. Tôn giả Sāriputta trình bày bốn chi phần: thân cận bậc chân nhân, nghe Chánh Pháp, tác ý đúng đắn, và thực hành Pháp tùy thuận theo Pháp. Đức Thế Tôn tán thán lời trình bày ấy.
Trong bốn điều kiện để một phàm phu bước vào dòng Thánh, dòng chảy không còn rơi vào các cõi khổ và chắc chắn hướng đến giác ngộ, thì việc nghe Chánh Pháp chiếm trọn một chi phần. Xin quý vị lưu ý rằng kinh dùng chữ saddhamma, Chánh Pháp, tức giáo pháp chân chính của bậc Chánh Đẳng Giác được truyền thừa đúng đắn. Không phải mọi lời nói mang màu sắc tôn giáo đều là Chánh Pháp.
Cũng xin nhắc lại rằng chi phần đầu tiên là thân cận bậc chân nhân. Hai chi phần này đi liền với nhau. Trong Tương Ưng Bộ (SN 45.2), khi Tôn giả Ānanda thưa rằng thiện tri thức là một nửa đời sống phạm hạnh, Đức Phật đã dạy rằng chớ nói như vậy, thiện tri thức là toàn bộ đời sống phạm hạnh. Người nghe Pháp mỗi ngày từ bậc chân nhân chính là người đang sống trọn vẹn với phạm hạnh ấy.
🟥 LỜI PHÁP ĐÃ NGHE KHÔNG MẤT ĐI KHI THÂN NÀY HOẠI DIỆT
Trong Tăng Chi Bộ, chương Bốn Pháp (AN 4.191), Đức Phật dạy rằng khi các giáo pháp đã được nghe bằng tai, được tụng đọc thuần thục bằng lời, được quán sát bằng ý, được khéo thể nhập bằng chánh kiến, thì có bốn lợi ích được chờ đợi.
Giả sử người ấy mệnh chung khi niệm còn lu mờ, chưa kịp chứng đạt, và được sinh vào một cõi trời. Tại đó, những câu Pháp xưa có thể tự hiện về trong tâm khi vị ấy đang an vui. Hoặc có một vị Tỳ-khưu có thần thông thuyết Pháp cho chư thiên, vị ấy nghe mà nhớ lại. Hoặc có một vị thiên thuyết Pháp, vị ấy nghe mà nhớ lại. Hoặc có một vị đồng sinh nhắc rằng bạn có nhớ chăng, đây là nơi xưa kia chúng ta từng sống đời phạm hạnh. Đức Phật dạy rằng niệm khởi lên chậm, nhưng vị ấy nhanh chóng đạt đến sự thù thắng.
Thưa quý vị, lời dạy này là một nguồn an ủi lớn cho những ai đang cảm thấy mình nghe nhiều mà chứng ngộ chưa bao nhiêu. Không có thời Pháp nào được lắng nghe với tâm chân thành mà trở nên uổng phí. Những gì đã được nghe, được tụng, được quán sát, được thấu hiểu đều trở thành duyên lành chờ đủ điều kiện để trổ quả, dù là ngay trong đời này hay trong một đời sống khác.
🟥 VÌ SAO PHẢI NGHE MỖI NGÀY
Kinh Pháp Cú, câu 152, có dạy:
Appassutāyaṃ puriso, balibaddova jīrati,
maṃsāni tassa vaḍḍhanti, paññā tassa na vaḍḍhati.Người ít nghe học già đi như con bò đực, thịt thì tăng trưởng, còn trí tuệ không tăng trưởng.
Tuổi tác chồng chất không làm nên bậc trí. Chỉ có Pháp được nghe, được suy xét và được thực hành mới khiến trí tuệ lớn lên.
Mỗi ngày, qua sáu căn, chúng ta tiếp xúc với vô số sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Mỗi lần tiếp xúc là một lần tham, sân, si có cơ hội sinh khởi. Phiền não không nghỉ ngơi ngày nào, vậy thì làm sao sự nhắc nhở của Chánh Pháp lại được phép vắng mặt?
Nghe Pháp đúng thời là nghe vào lúc tâm bị phóng dật chi phối, hoặc bị dục tầm hay các loại tầm bất thiện khác lấn át, để xua tan những trạng thái ấy. Nếu soi vào chính mình một cách thành thật, chắc quý vị cũng như tôi sẽ thấy rằng hầu như ngày nào tâm cũng có lúc rơi vào những trạng thái ấy. Như vậy, đối với người còn phiền não, ngày nào cũng là đúng thời để nghe Pháp.
Kinh Pháp Cú, câu 100, dạy rằng dù nói đến ngàn lời mà không lợi ích, tốt hơn một câu có ý nghĩa, nghe xong được an tịnh. Hãy thử nhìn lại một ngày của mình, xem bao nhiêu thời gian đã dành cho tin tức, tranh luận, chuyện thị phi, và bao nhiêu thời gian dành cho những lời đưa tâm đến an tịnh.
Kinh Pháp Cú, câu 354, dạy rằng Pháp thí thắng mọi thí, Pháp vị thắng mọi vị, Pháp lạc thắng mọi lạc, ái diệt thắng mọi khổ. Người đã thật sự nếm được vị của Pháp sẽ không cần ai thúc giục mới tìm đến Pháp mỗi ngày. Kinh Pháp Cú, câu 79, dạy rằng người uống nước Pháp sống an lạc với tâm hoàn toàn trong sáng. Và câu 364 dạy rằng vị Tỳ-khưu vui thích trong Pháp, ưa thích Pháp, suy tư về Pháp, tùy niệm Pháp, thì không rời bỏ Chánh Pháp. Sự bền bỉ gắn bó với Pháp chính là điều giữ cho người tu không thối thất.
🟥 NGHE NHƯ THẾ NÀO CHO ĐÚNG CHÁNH PHÁP
Nghe Pháp có lợi ích lớn lao, nhưng nghe không đúng cách thì lợi ích sẽ giảm, thậm chí có thể trở thành tai hại.
Trong Tăng Chi Bộ (AN 5.151), Đức Phật dạy rằng người nghe Pháp đầy đủ năm điều thì có khả năng bước vào con đường chánh định trong các thiện pháp: không khinh thường bài giảng, không khinh thường người giảng, không khinh thường chính mình, nghe Pháp với tâm không tán loạn và nhất tâm, và tác ý đúng đắn. Xin quý vị lưu tâm điều thứ ba. Có người nghĩ rằng giáo pháp quá cao, mình căn cơ thấp kém không thể hiểu nổi. Đức Phật xem đó cũng là một chướng ngại cho sự tiến bộ, ngang hàng với việc khinh thường bài giảng hay người giảng.
Trong kinh Ví Dụ Con Rắn (Trung Bộ 22), Đức Phật cảnh giác về những người học Pháp mà không dùng trí tuệ quán sát ý nghĩa, chỉ học để chỉ trích người khác hoặc để thoát khỏi thế bí trong tranh luận. Họ giống như người bắt rắn nắm vào khoanh mình hay đuôi của nó, rắn quay lại cắn, đưa đến chết hay khổ đau gần như chết. Pháp được nghe là để soi vào chính mình, không phải để làm thước đo phán xét kẻ khác.
Trong Tăng Chi Bộ (AN 5.73), Đức Phật còn dạy rằng vị Tỳ-khưu học thuộc nhiều giáo pháp, suốt ngày chỉ bận rộn với việc học, bỏ quên sống độc cư, không chuyên chú vào sự an tịnh nội tâm, thì chỉ được gọi là người nặng về học, chưa phải là người sống theo Pháp. Người sống theo Pháp là người học Pháp nhưng không bỏ quên độc cư và chuyên tâm vào sự an tịnh nội tâm. Ngài kết thúc bằng lời khuyên hãy tu thiền, chớ có phóng dật.
Kinh Pháp Cú, câu 259, dạy rằng không phải vì nói nhiều mà thành người trì Pháp. Người dù nghe ít nhưng tự thân thấy được Pháp và không xao lãng Pháp, người ấy mới thật là người trì Pháp. Ngài Bāhiya Dārucīriya là minh chứng. Theo kinh Phật Tự Thuyết (Udāna 1.10), Ngài chỉ được Đức Phật dạy một lời ngắn ngủi ngay khi Đức Thế Tôn đang đi khất thực trong thành Sāvatthī, rằng trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy, trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe, trong cái cảm nhận sẽ chỉ là cái cảm nhận, trong cái thức tri sẽ chỉ là cái thức tri. Nghe xong lời dạy ấy, Ngài liền chứng quả A-la-hán. Không phải số lượng bài Pháp làm nên giải thoát, mà chính chiều sâu của sự lắng nghe và sự thể nhập.
🟥 LỜI KẾT
Kính thưa quý vị,
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn (Trường Bộ 16), trước khi nhập diệt, Đức Thế Tôn đã dạy Tôn giả Ānanda rằng Pháp và Luật mà Ngài đã thuyết giảng và chế định sẽ là Đạo Sư của chúng ta sau khi Ngài không còn nữa. Trong Tương Ưng Bộ (SN 22.87), khi Tôn giả Vakkali lâm bệnh nặng và mong được chiêm ngưỡng Đức Phật, Ngài đã dạy rằng có gì đáng xem trong cái thân hôi hám này, ai thấy Pháp người ấy thấy Ta, ai thấy Ta người ấy thấy Pháp.
Chúng ta sinh ra quá muộn để được diện kiến thân Phật. Nhưng Pháp vẫn còn đó, vẫn được chư Tăng gìn giữ và truyền trao. Mỗi lần lắng nghe Chánh Pháp với tâm tôn kính, khiêm cung, chuyên chú và tác ý đúng đắn, rồi đem lời Pháp ấy soi vào thân tâm mình và thực hành, là mỗi lần quý vị đang bước đi trên con đường dẫn đến chỗ thấy Pháp.
Nguyện cho quý vị gìn giữ được thói quen lành này mỗi ngày, để hiểu biết được làm cho trong sáng, hoài nghi được vượt qua, kiến giải được ngay thẳng, tâm được tịnh tín, cho đến ngày tự thân chứng ngộ sự an tịnh tối thượng.
Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
Sādhu, sādhu, sādhu.
– Khải Tuệ Quang –
