Trong Mahāparinibbāna Sutta (DN 16), trước khi nhập diệt, Đức Phật đã ban cho đệ tử bốn tiêu chuẩn kiểm chứng (Mahāpadesa – Tứ Đại Giáo Pháp):
“Này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo nói như sau: ‘Tôi đã từ chính miệng Thế Tôn nghe và lĩnh thọ như sau…’ Này các Tỷ-kheo, lời nói của vị Tỷ-kheo ấy không nên tán thán, không nên phản đối. Không tán thán, không phản đối, các ông cần phải học kỹ từng chữ, từng câu, rồi đối chiếu với KINH ĐIỂN (sutta), so sánh với LUẬT TẠNG (vinaya). Nếu khi đối chiếu với kinh điển, so sánh với luật tạng, mà các câu ấy không phù hợp với kinh điển, không tương ứng với luật tạng, các ông phải kết luận như sau: ‘Chắc chắn đây không phải lời của Thế Tôn, và vị Tỷ-kheo ấy đã lĩnh thọ sai.’ Này các Tỷ-kheo, các ông hãy từ bỏ lời ấy.”
Đây là tiêu chuẩn vàng để phân biệt Chánh pháp và Tà pháp. Không phải do thầy nào nói, không phải do truyền thống nào, mà phải đối chiếu với Tam Tạng gốc.
——-
Sammādiṭṭhi Sutta (MN 9) – Kinh Chánh Kiến, Ngài Xá-lợi-phất định nghĩa:
“Thế nào là Chánh kiến? Biết khổ, biết khổ tập, biết khổ diệt, biết con đường đưa đến khổ diệt. Này các Hiền giả, đó gọi là Chánh kiến.”
———
Dhammacakkappavattana Sutta (SN 56.11) – Kinh Chuyển Pháp Luân:
“Đây là Trung Đạo mà Như Lai đã giác ngộ, tạo ra con mắt, tạo ra trí tuệ, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và Trung Đạo ấy là gì? Chính là Bát Thánh Đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.”
———
Đặc biệt trong Aṅguttara Nikāya (AN 8.53) – Kinh Gotamī, Phật định nghĩa pháp nào là Chánh pháp:
“Này Gotamī, những pháp nào mà ngươi biết rõ: ‘Những pháp này đưa đến tham dục, không đưa đến vô tham; đưa đến bị trói buộc, không đưa đến không bị trói buộc; đưa đến tích tụ, không đưa đến không tích tụ; đưa đến cầu nhiều, không đưa đến thiểu dục; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến tụ hội, không đưa đến viễn ly; đưa đến biếng nhác, không đưa đến tinh tấn; đưa đến khó nuôi, không đưa đến dễ nuôi’ – Này Gotamī, ngươi hãy xác định rõ ràng: ‘Đây không phải là Pháp, đây không phải là Luật, đây không phải lời Bậc Đạo Sư dạy.’
“Nhưng này Gotamī, những pháp nào mà ngươi biết rõ: ‘Những pháp này đưa đến vô tham, không đưa đến tham dục; đưa đến không bị trói buộc, không đưa đến bị trói buộc; đưa đến không tích tụ, không đưa đến tích tụ; đưa đến thiểu dục, không đưa đến cầu nhiều; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến viễn ly, không đưa đến tụ hội; đưa đến tinh tấn, không đưa đến biếng nhác; đưa đến dễ nuôi, không đưa đến khó nuôi’ – Này Gotamī, ngươi hãy xác định rõ ràng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời Bậc Đạo Sư dạy.'”
———-
Brahmajāla Sutta (DN 1) – Kinh Phạm Võng, Phật liệt kê 62 tà kiến:
“Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn theo nhiều tà kiến, thuyết giảng nhiều tà kiến khác nhau… đó là vấn đề Thường kiến, vấn đề Đoạn kiến, vấn đề Hữu biên, Vô biên, vấn đề Ngã và Thế giới… Tất cả những thuyết này chỉ là cảm thọ của những người không biết, không thấy, chỉ là sự xoay vần, rung chuyển, xiêu xẹo của những người bị tham ái chi phối.”
———–
Kālāma Sutta (AN 3.65) – Kinh Kālāma, Phật cảnh báo MƯỜI ĐIỀU KHÔNG NÊN TIN:
“Này các Kālāma:
Chớ tin vì nghe truyền thuyết từ đời này qua đời khác (anussava)
Chớ tin vì theo truyền thống (paramparā)
Chớ tin vì được nghe nói chung chung (itikirā)
Chớ tin vì có trong tạng kinh (piṭaka-sampadāna)
Chớ tin vì suy luận (takkahetu)
Chớ tin vì suy diễn lý luận (nayahetu)
Chớ tin vì suy tư về lý lẽ (ākāraparivitakka)
Chớ tin vì chấp nhận một quan điểm sau khi suy xét (diṭṭhinijjhānakkhanti)
Chớ tin vì người nói có vẻ có năng lực (bhabbarūpatā)
Chớ tin vì Sa-môn là bậc Thầy của ta (samaṇo no garū)
Này các Kālāma, khi nào tự mình biết rõ: ‘Những pháp này là thiện, không bị quở trách, được người trí tán thán, khi thực hành và thành tựu đưa đến lợi ích và an lạc’ – này các Kālāma, hãy thành tựu và an trú.”
———
Aṅguttara Nikāya (AN 2.5-6) – Phật phân biệt hai loại pháp:
“Này các Tỷ-kheo, có hai loại pháp này: Thiện pháp và Bất thiện pháp, Chánh pháp và Tà pháp.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bất thiện pháp? Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận, tà kiến – đây gọi là bất thiện pháp.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thiện pháp? Từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp… chánh kiến – đây gọi là thiện pháp.”
—–
Pañcaṅgika Sutta (AN 5.146):
“Này các Tỷ-kheo, người có năm chi phần này không có khả năng chứng đạt tăng trưởng, tăng tiến, quảng đại trong Pháp này. Thế nào là năm?
Không có lòng tin (assaddho)
Không có tàm quý (ahiriko)
Không có ô hối (anottappī)
Biếng nhác (kusīto)
Thiếu trí tuệ (duppañño)
Này các Tỷ-kheo, người có năm chi phần này không có khả năng chứng đạt tăng trưởng, tăng tiến, quảng đại trong Pháp này.”
——
Apāya Sutta (AN 10.176):
“Này các Tỷ-kheo, do thành tựu mười pháp này, chúng sinh sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là mười?
Ở đây, có người sát sanh… tà kiến. Và người ấy có tà kiến như sau: ‘Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế tự, không có quả thiện ác nghiệp, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loài hóa sanh, không có Sa-môn, Bà-la-môn chơn chính, chánh hạnh, có tự mình giác ngộ, chứng đạt đời này, đời sau, tự tuyên bố.’
Này các Tỷ-kheo, do thành tựu mười pháp này, chúng sinh sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”
——-
Devadūta Sutta (MN 130) – Kinh Thiên Sứ:
“Này các Tỷ-kheo, kẻ ác hạnh bằng thân, ác hạnh bằng lời, ác hạnh bằng ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”
——–
Nīvaraṇa Sutta (SN 46.33):
“Này các Tỷ-kheo, có năm triền cái này. Thế nào là năm? Tham dục triền cái, sân hận triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo hối triền cái, nghi triền cái.
Này các Tỷ-kheo, những triền cái này làm mù lòa, làm mất sáng trí, làm giảm trí tuệ, tạo ra não hại, đưa đến xa rời Niết-bàn.”
——-
Ekāyana Sutta – trong Satipaṭṭhāna Sutta (MN 10):
“Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất (ekāyano maggo) đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ.”
———
Dhammacakkappavattana Sutta (SN 56.11):
“Này các Tỷ-kheo, có hai cực đoan này, người xuất gia không nên thực hành: Một là đắm say trong các dục, hạ tiện, phàm tục, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không đưa đến mục đích. Hai là tự hành xác mình, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không đưa đến mục đích. Này các Tỷ-kheo, Như Lai không thực hành hai cực đoan này, đã giác ngộ TRUNG ĐẠO, tạo ra con mắt, tạo ra trí tuệ, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”
——
Araṇavibhaṅga Sutta (MN 139):
“Này các Tỷ-kheo, có ba loại này. Thế nào là ba? Có tranh luận với các vị sống không tranh luận – đây là tranh luận thấp kém, tầm thường, phàm phu, không Thánh, không có lợi ích, không hướng đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”
——–
Cūḷasīhanāda Sutta (MN 11):
“Này các Tỷ-kheo, như một con chó hoang ốm yếu, gầy mòm, đến ngôi làng, các trẻ con ném đá, ném gậy. Nó bị đánh vào lưng, bị đánh vào hông, bị đánh vào đầu, đến chỗ nào cũng bị đuổi đi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có một số Sa-môn, Bà-la-môn kém cỏi, vô năng lực, không thể biện hộ giáo lý của mình, bị các bậc có trí hỏi, chất vấn, tra xét, rơi vào tình trạng trống rỗng, câm nín, thất vọng, gục đầu, ủ dột, không thể đáp lại.”
——
Aṅguttara Nikāya (AN 4.23):
“Này các Tỷ-kheo, các Như Lai có bốn pháp không thể nghĩ bàn, không thể suy tư. Đối với những pháp ấy, ai suy tư sẽ bị điên cuồng, bị não loạn. Thế nào là bốn?
Phạm vi của chư Phật là không thể nghĩ bàn…
Phạm vi của thiền định là không thể nghĩ bàn…
Quả báo của nghiệp là không thể nghĩ bàn…
Suy tư về thế giới là không thể nghĩ bàn…”
———
Dhammacakkappavattana Sutta (SN 56.11):
“Này các Tỷ-kheo, đây là Khổ Thánh Đế: Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, ngũ thủ uẩn là khổ.”
“Này các Tỷ-kheo, đây là Khổ Tập Thánh Đế: Chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hoan lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.”
“Này các Tỷ-kheo, đây là Khổ Diệt Thánh Đế: Chính là ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly, giải thoát, không chấp trước ái ấy.”
“Này các Tỷ-kheo, đây là Con Đường Đưa Đến Khổ Diệt Thánh Đế: Chính là Bát Thánh Đạo…”
– Biên soạn & Chia sẻ: Khải Tuệ Quang –
